2012/05/24 - Luận về Pháp-Môn TỊNH-ĐỘ

LUẬN VỀ PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ

 

                          “Lòng thương chúng thuyết phương Tịnh-độ

                           Đặng dắt dìu tất cả Chúng-Sanh.”

                                                                     (Khuyến thiện)

         Hôm nay chúng tôi với cái hiểu biết và tìm tòi, nghiên cứu theo sự nông cạn khiếm diện của mình, mạo muội luận về Pháp môn Tịnh độ, mong rằng tất cả quí Tín Hữu và chư quí Đồng Đạo có xem qua bài luận này, xin bổ chính ở chỗ còn khiếm khuyết, chúng tôi thành thật biết ơn trước. Vả lại theo chúng tôi thiết nghĩ rằng, Đạo Pháp là tài sản chung chẳng phải của riêng ai, nên vì sự nghiệp chung Quí vị cũng hoan-hỉ đóng góp cho đề luận này được thêm phong phú.

         Để mở đầu luận về “Pháp môn Tịnh-Độ” chúng tôi xin chú thích danh từ “Pháp Môn Tịnh Độ”:

         Pháp có nghĩa là một công thức, là một phương pháp, là những lời hướng dẫn của Đức Phật.

           Môn là cửa, là ngõ, là lối đi vào bên trong nhà.

         Pháp Môn nghĩa là một phương pháp hướng dẫn lối vào ngưỡng cửa của nhà Phật.

         Tịnh nghĩa là trong sạch, thuần khiết, không uế trược.

         Độ nghĩa là quốc độ.

         Tịnh-Độ nghĩa là một quốc độ thuần khiết trong sạch, khác với Uế Độ (là quốc độ ô trược) là một thế giới thúi hôi dơ bẩn.

         Đức Phật thuyết Pháp Môn Tịnh-Độ là hướng dẫn giáo hóa chúng sanh thực hành để cầu vãng sanh Tây-Phương Cực-Lạc.

                          “Môn Tịnh-Độ là phương cứu cánh,

                           Ráng phụng hành kẻo phụ Phật xưa.”

                                                            (Khuyến thiện)

         Hai câu Thánh ngôn này Đức Thầy cho chúng ta biết rằng Pháp môn Tịnh độ là một phượng tiện đưa chúng sanh đến chỗ rốt ráo của giải thoát, nên chúng ta phải phát tín tâm và phát nguyện, cố gắng thực hành và phụng sự (truyền bá), hầu đáp đền công ơn vĩ đại của Đức Phật ngày xưa đã dày công khai hóa. Nếu chúng ta không phụng hành là phụ bỏ cái công trình vĩ đại của các Ngài, chúng ta là kẻ vong ơn, với tấm lòng Từ Bi thương xót cứu khổ chúng sanh của các Ngài.

         Duyên khởi do kim ngôn của Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni thuyết tam kinh:

         1- QUÁN VÔ LƯỢNG THỌ KINH gồm 16 phép Quán,

         2- VÔ LƯỢNG THỌ KINH do Ngài Pháp Tạng Tỳ Kheo đến trước Phật Tự Tại Vương Như–Lai, phát ra 48 lời thệ nguyện độ tận chúng sanh,

         3- A-DI-ĐÀ KINH do Ngài thuyết về Tông chỉ và cảnh giới Tịnh-Độ, đây là những bộ KINH vô vấn tự thuyết.

         1- Pháp Môn Tịnh-Độ là pháp môn thù thắng (hơn tất cả các pháp môn).          

         2- Là pháp dị hành (là pháp dễ hành).

         3- Là pháp quảng độ (rộng độ).

         4- Cũng là pháp khế cơ (phù hạp mọi căn cơ).

         5- Là pháp đại thừa (tu một pháp đắc 6 phép BA LA MẬT cũng gọi là lục độ).

         6- Là pháp môn tha lực và tự lực (là vừa tự độ và trợ lực của Đức Phật A-DI-ĐÀ) nghĩa là nhờ hai sức độ mau siêu phàm trần.

         7- Là pháp môn tu tắc chỉ trong một kiếp được chứng quả bất thối.

          Pháp Môn Tịnh Độ là một “Pháp Môn nan TÍN chi Pháp” (là pháp môn rất khó Tin), nên thực hành Pháp môn này phải hết lòng tin tưởng, không có còn một mải nghi nào như vậy mới đạt được kết quả.

         Kinh DI-ĐÀ SỚ SAO, PHẬT cho biết “Đương lai chi thế chư Kinh diệt tận, Ngã dĩ Từ-Bi ai mẫn, đặt lưu thử Kinh, chỉ trụ bá tuế, kỳ nhơn tự trì Kinh giả, phát tín tâm, tùy ý sở nguyện giai khả đắc độ.” (Vào thời kỳ vị lai, là thời kỳ Mạt pháp tất cả các Kinh không còn phù hạp căn cơ của chúng sanh nữa, Ta vì lòng Từ Bi thương xót chúng sanh, thuyết ra KINH A-DI ĐÀ này, nếu người nào gặp được và trì KINH này, mà phát khởi lòng tin, tùy theo chỗ ý nguyện đều được đắc độ.

                                  Tám muôn bốn ngàn Pháp,

                                  Vào thời kỳ mạt kiếp.

                                  Dễ tu có một môn,

                                  Niệm A-DI ĐÀ PHẬT.

                                  Các tội lỗi đều tiêu,

                                  Những vọng tâm điều dứt.

                                  Niệm PHẬT một lòng thành,

                                  Đủ sanh về PHẬT Quốc.    

                                                            (Thanh Sĩ)

         Chúng tôi xin trình bày pháp môn tịnh độ gồm có 2 phần chính:

1- Tông chỉ Tịnh Độ gồm Tín, Nguyện, Hạnh.

2- Lợi ích của người hành trì Pháp Môn Tịnh Độ.

TÔNG CHỈ CỦA PHÁP MÔN TỊNH-ĐỘ

         Tông Chỉ Tịnh Độ: là lời hướng dẫn đến mục tiêu cõi Tịnh-độ.

         Đức Thầy có câu:

                          “Nếu như ai cố chí làm lành,

                           Chuyên niệm Phật cầu sanh Phật Quốc.

                           Cả vũ trụ khắp cùng vạn vật,

                           Dầu Tiên, Phàm, Ma, Quỉ, Súc sanh.

                           Cứ nhứt tâm Tín, Nguyện, Phụng Hành,

                           Được cứu cánh về nơi an dưỡng.

                           Chỉ một kiếp Tây-Phương hồi hướng,

                           Thoát mê đồ dứt cuộc luân hồi.”         

                                                   (Khuyến thiện)

         Căn cứ vào câu “Cứ nhứt tâm Tín, Nguyện, Phụng Hành”, thì chúng ta thấy rằng Đức Thầy khuyến tấn chúng ta phải hết lòng Tin tưởng, một lòng phát Nguyện, và một lòng Hành trì cùng phụng sự cho Đạo Pháp, sẽ được đến chỗ rốt ráo giải thoát khỏi đường mê luân hồi chỉ trong một kiếp, không phải cần khổ công hành trì trong nhiều kiếp.

 1- TÍN là lòng Tin, là đức Tin tuyệt đối không còn nhi ngờ.

                Tín nguyên Công-Đức Mẫu,

                Tín năng trưởng dưỡng chư Thiện căn,

                Tín năng siêu-việt chúng ma lộ,

                Tín năng ly xuất sanh tử hải,

                Tín năng đắc nhập Tam-Ma Địa,

                Tín năng thành tựu Đạo Bồ-Đề. 

         Tạm dịch:

                 Tin là nguồn gốc, là mẹ đẻ tất cả Công Đức,

                 Tin là hay nuôi dưỡng các căn Lành,

                 Tin là hay vượt qua khỏi đường tà,

                 Tin là có sức lìa xa biển luân hồi sanh tử,

                 Tin là được đắc nhập vào chánh định,

                 Tin là thành tựu quả vị vô thượng chánh đẳng, chánh giác.

         Hành giả nếu thực hành Pháp môn Tịnh độ phải có lòng tin sâu, không bán tín bán nghi, mới có thể đạt được mục đích.

                          Tin là mẹ đẻ ra ngôi Phật,

                          Tin là thuyền cứu vớt chúng sanh.

                                  Có tin thì mới có hành,

                 Thiếu lòng tin tưởng tu hành sao nên.

                          Tin tưởng tất sẽ bền ý chí,

                          Ý chí bền thì vị quả nên.

                                  Không tin thì chí không bền,

                 Không bền chí cả không nên đạo mầu.

                          Việc càng khó càng sâu tin tưởng,

                          Tin tưởng sâu thì chướng ngại tiêu.

                          Tin là thứ phép cao siêu,

                          Sẽ làm như ý sẽ tiêu ma tà.

                                                   (Thanh Sĩ)

         TIN có 5 phần:

               Tin lời Phật và của Đức Thầy thuyết là có thật.

               Tin Tây Phương có Cõi Cực-Lạc, Tịnh-Độ.

               Tin có Đức Phật A-DI- ĐÀ hiện tại đang thuyết pháp.

               Tin tưởng lúc lâm chung có Phật tiếp dẫn.

               Và Tin mình sẽ được Vãng sanh Tịnh Độ.

         Nói tóm lại, Lòng Tin tưởng không có nghi ngờ thì chắc chắn sẽ đạt thành sở nguyện .

2.- NGUYỆN là lòng mong cầu tha thiết vãng sanh Tịnh-độ.

         Khi hành giả có tín tâm rồi, tiếp theo phải có phát nguyện, nghĩa là lòng mong cầu vãng sanh Tây phương Tịnh độ. Ví như người đi học đã tin tưởng vị Giáo sư của mình rồi, tin vào  học lực của mình, nhưng phải có một nguyện vọng về ý thích của mình, như ngành Sư phạm hay trở thành một nhà làm Kinh tế, v.v... Như vậy chúng ta mới có cái nuôi hy vọng, có như thế hoc tập mới siêng năng, không nửa chừng nghỉ ngang, chắc chắn sẽ thành công như nguyện vọng, cũng không ngoài lẽ đó, hành giả có phát nguyện, mới có cái gìn giữ bổn nguyện đến ngày thành tựu, như tất cả chư Phật xưa nay đều do gìn chặt bổn nguyện mà viên thành đạo quả.

         Theo chúng tôi nhận xét phát nguyện cũng có 5 phần:

1.- Sở Nguyện nghĩa là chỗ mục tiêu phát nguyện về Tây Phương Tịnh-Độ không mong cầu nơi nào khác.

        2.- Năng Nguyện là hay nguyện, thường nguyện, không thay đổi ý nguyện.

3.- Yểm Ly Nguyện là chán cảnh Tà-Bà, mong cầu được thoát khỏi.

4.- Hân Nguyện là vui cầu về TỊNH-ĐỘ

        5.- Hoằng Nguyện là Phát Nguyện về TÂY PHƯƠNG học Đạo cho hoàn toàn đặng trở lại cứu vớt chúng sanh. Nếu hành giả có lòng tha thiết nguyện như vậy, mà không dời đổi bổn nguyện, thì chắc chắn sẽ được toại nguyện.

Gặp khó khăn nhớ niệm DI ĐÀ,

Lấy bổn nguyện ra mà nhịn chịu.

                                                            (Thanh Sĩ)

Nguyện sanh tây phương tịnh độ trung,

Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu,

Hoa khai kiến phật ngộ vô sanh,

Bất thối bồ-tát vi bạn lữ.

Tạm dịch:

Nguyện sanh Tịnh-độ Tây phương,

Hoa sen chín phẩm song đường sanh ta.

Thấy Phật tỏ ngộ sâu xa,

Bồ-tát bất-thối cùng ta đồng hành.

Nói tóm lại hành giả phải giữ tròn bổn nguyện mới thành tựu được đạo quả.

“Sớm với chiều gắng chí nguyện cầu,

 Thì sẽ được tòa chương dựa kế.”  

                                                   (Giác Mê tâm kệ)

3.-HẠNH là hành trì, vâng làm theo lời của Phật dạy. Hạnh có 2 phần chính: Chánh hạnh và Trợ hạnh.

                          Có giống sẵn không lo trồng tỉa,

                          Ước mơ suông há dễ được ăn.

                                                   (Thanh Sĩ)

         Đã có tin sâu, nguyện thiết rồi, tiếp theo chúng ta phải thực hành mới gặt hái được kết quả, nếu chúng ta chỉ tin tưởng vào việc làm của mình, và ước nguyện suông, không chịu thực hành thì không bao giờ có kết quả.

                          Là Phật tử mong qua Tịnh-độ,

                          Đi chớ ngồi một chỗ không xong.

                          Phải cần bồi đức lập công,

                          Để làm phân bón cho lòng NAM-MÔ.

                                                   (Thanh Sĩ)

         Chánh Hạnh: Niệm Danh Hiệu A-DI-ĐÀ PHẬT là chánh hạnh.

                          Đi đứng niệm Di-Đà,

                          Nằm ngồi trì lục tự.

                          Thức cũng tưởng A-Di,

                          Ngủ cũng ghi sáu chữ.

                          Nói cũng nhớ Nam-mô,

                          Nín cũng ôm Phật sự.

                          Cực lạc muốn Vãng sanh,

                          Cứ y hành như thử.         

                                                   (Thanh Sĩ)

         Hành trì danh hiệu, theo chúng tôi nghiên cứu thấy có nhiều cách:

         Tịnh tọa trì danh: ngồi tư thế bán già, hoặc kiết già. Có 3 cách:

         1- Hàng ma tọa: là thế ngồi bán già, là bàn giò trái gát lên vế giò mặt, đây là cách tịnh tọa của Ngài Văn-Thù-Sư-Lợi, để hàng phục nội ma và ngoại ma. Nên gọi là hàng ma tọa. 

         2- Kiết Tường Tọa: cũng là thế ngồi bán già, bàn giò mặt gát lên vế trái, đây là cách tịnh tọa của Ngài Phổ-Hiền, cầu được gặp điềm lành, nên gọi là Kiết tường tọa.

         3- Kim Cang Tọa: là thế ngồi kiết già, hai bàn giò gát tréo lên hai vế. Đây là cách tịnh tọa của Hạnh đầu-đà (khổ hạnh) như Đức Phật hay Ngài Ca-Diếp, đây là thế ngồi vững chắc nhứt, không có ngoại ma hay nội ma phiền não nào mà làm cho tâm loạn động, ví như loại Kim Cang cứng chắc không có vật nào phá được, nên gọi là Kim Cang Tọa.

         Tứ oai nghi trì danh: Đi, đứng, nằm, ngồi đều niệm Danh Hiệu Phật.

         Đảnh lễ trì danh: vừa lạy vừa niệm Phật.

         Sổ châu trì danh: lần chuỗi niệm PHẬT.

         Tùy tức trì danh: theo hơi thở ra vô niệm PHẬT.

         Cao thinh trì: Niệm Phật tiếng lớn, cách phá hôn trầm (ngủ gục).

          Đê thinh trì danh: Niệm PHẬT ra tiếng mà nhỏ, phá tạp tưởng (tưởng đó nhớ đây).

          Kim cang trì danh: Niệm PHẬT hơi gió không ra tiếng, để phá phiền não thô (phiền não nhận thấy được).

          Mặc niệm trì danh: Niệm PHẬT thầm trong tâm, để phá vi tế phiền não (phiền não soi kỹ mới nhận thấy).

        Thật tướng trì danh: Là cả tướng và tâm, cả sự lẫn lý đều thuần nhứt niệm PHẬT không chấp một phương pháp nào, đứng, đi, thức ngủ, nói làm tự do, tự do đây là tự do trong việc lành, là tưởng thanh, nói chánh, làm nhân, lúc này khỏi cần trì danh HIỆU PHẬT, mà làm theo lòng TỪ-BI HỈ-XẢ của PHẬT.

“Nhớ từ-bi hai chữ ngâm nga,

 Dầu làm lụng cũng là trì chí.”     

                                                   (Giác Mê tâm kệ)

                          Hoặc chẳng niệm một lời chi cả,

                          Nhưng thường hay có dạ từ-bi.

                          Trần ai chẳng nhiễm vật gì,

                          Cũng là được Phật hộ trì ngày đêm.

                          Người tự độ cầu thêm Phật độ,

                          Như nước xuôi nhờ gió thuận chiều.

                          Đường về chóng biết bao nhiêu,

                          Nhờ hai sức độ mau siêu phàm trần.

                                                   (Thanh Sĩ)

         Nói tóm lại, niệm Phật có nhiều cách, nhưng cốt yếu làm sao cho tâm mình được thanh tịnh, muốn được vậy theo sự hiểu biết của chúng tôi, y theo lời chỉ của Đức Thầy, niệm Phật phải tùng tâm khởi niệm, để trừ cái vọng niệm mê lầm, đó mới là Chánh Hạnh:

         “Niệm Phật là niệm cái Bản Lai thanh tịnh của PHẬT cho lòng của mình nương theo đó mà được thanh tịnh và chẳng còn trược nhiễm trần ai.”

         Trợ Hạnh: Là phần Phụ Thuộc, để hỗ trợ thêm cho phần Chánh Hạnh, nếu hành giả để thiếu sót phần trợ hạnh, thì sẽ chậm kết quả, nhiều khi đi đến nản chí bỏ cuộc giữa chừng, ví như người trồng lúa nếu không có phân nước thì cây lúa không phát triển được, sẽ bị thất mùa, lại nữa dùng cơm mà không có những món ăn phụ thuộc thì bữa cơm không ngon.

         Thế nên, niệm PHẬT hành giả phải cộng thêm làm lành, lánh dữ, giữ giới, ăn chay, cúng lạy, bố thí, như vậy mới mau thành tựu như ý nguyện:

                          “Nam-Mô miệng niệm lòng lành,

                           Bá gia phải ráng biết rành đường tu.” 

                                                            (Sấm Giảng Q1)

         Hoặc 

                          “Chữ Nam-Mô trì giái giữ chay,

                           Chay được tánh chay tâm mới quí.”

                                                            (Sa Đéc)

         - Chư Phật có 4 Đại Đức; vậy ta niệm danh hiệu Phật để nhớ Phật và ráng sức làm theo 4 Đại Đức của Phật đặng ngày sau chứng quả như Ngài, 4 Đức ấy là Từ, Bi, Hỉ, Xả.

         - Cần tu Thập thiện thì sự niệm mới có hiệu quả (phương pháp niệm Phật).

         (Xin Quí vị đọc lại trong quyển Tôn chỉ hành Đạo, luận về Tam nghiệp, hành thập thiện, trừ thập ác).

         Nói tóm lại, phương pháp hành trì Pháp môn Niệm Phật, ngoài niệm danh hiệu của PHẬT chánh hạnh, hành giả phải cộng thêm các phần công đức phước đức, các hạnh lành để hỗ trợ thêm, được như vậy mới mau đạt thành sở nguyện.

 LỢI ÍCH CỦA PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ

Khi hành giả thực đúng theo tông chỉ của Pháp môn Tịnh độ, lợi ích của hiện tại là được hạnh phúc, của tương lai được sanh sang An dưỡng quốc, tức là cõi Tịnh độ, thọ Y báo và Chánh báo cõi Tịnh Độ, kể ra như sau:

1.- Chánh Báo: là nói về tinh thần và chơn thân đang thọ hưởng:

         - Vô lượng thọ (tuổi thọ không thể lường)

         - Tướng hảo quang minh (32 tuớng tốt, 80 vẻ đẹp)

         - Hạnh đức trang nghiêm: không phạm oai nghi, đi đứng, nằm ngồi

         - Thân thể thanh tịnh: không bị uế dơ

         - Trường sanh bất lão: trẻ mãi không già, không chết.

         - Luôn được mạnh khỏe: không có ốm đau

         - Đời sống thanh tịnh: không có trược nhiễm

         - Liên hoa hóa thân: thân không dâm dục

         - Tinh thần sáng suốt: không vướng vô minh

         - Chứng quả bất thối: không thân chúng sanh, không bị luân hồi

         - Tâm tánh hòa nhã: không có não phiền, hờn giận

         - Thần thông diệu dụng: lục thông, tam minh

         - Đi đứng tự tại: không bị chướng ngại

Còn nhiều lắm kể ra không hết được những phần Chánh báo, chỉ kể theo sự hiểu biết của mình thôi, xin quí vị tìm thêm.

2.- Y Báo: là nói về cảnh giới đang thọ hưởng. Cảnh vật trường tồn không bị hoại diệt:

Bảo địa: vàng ròng làm đất

Bảo lâu: 7 báu xây thành, kim, ngân, lưu ly, pha lê, xích châu, sa cừ, mã não,

Bảo thọ: 7 hàng cây báu

Bảo trì: ao thất bảo

Bảo thủy: nước bát công đức

Bảo điểu: 6 loài chim quí

Bảo liên: sen báu

Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng

Bảo Hoa: hoa Mạng đà

Bảo hương: trầm hương, hương chiên đàn

Bảo lộng; dù báu

Y thực tự nhiên: ăn mặc tự theo ý muốn hóa ra

Đồ dùng sạch tốt, không có hư dơ

Không có thiên tai địa ách

Khí hậu ôn hòa: không nóng lạnh gió mưa

Hào quang thay nhựt nguyệt

Thần thông thế tàu xe

Quốc độ trong sạch

Nói tóm lại, Cực lạc tột vui thanh minh sáng suốt, thơm nức mùi hương, nhẹ nhàng thơ thới, cảnh giới trường tồn, không già không chết, không ốm không đau, không luân hồi sanh tử, y thực đủ thứ khỏi phải sanh nhai, không còn ân ái, thoát cảnh hiệp ly, oán thù dứt đi, hết sân si nhân ngã, giàu nghèo bươn bả cũng chẳng có còn đạo quả vẹn tròn, như lai thọ ký.

                          “Ta bà khổ, Ta bà lắm khổ.

                           Có bao người xét cho tột chỗ,

                           Tịnh Độ vui, Tịnh Độ nhàn vui.

                           Cảnh thanh minh sen báu nặc mùi,

                           Nào ai rõ cái vui triệt đáo.”

                                                   (Khuyến thiện)

Ta bà khổ, ta bà khổ, ta bà chi khổ thùy năng sổ

(Chịu nỗi khổ, chịu nỗi khổ, chịu nhiều thứ khổ, ai tính nổi)

Tịnh độ lạc tịnh độ lạc, tịnh độ chi lạc, thùy năng giác

(Tịnh độ vui, tịnh độ vui, tịnh độ tột vui, ai mà biết được)

                                                        (Trích Kinh DI-ĐÀ SỚ SAO)

Kết Luận: Pháp môn Tịnh độ là một pháp môn cứu cánh, là con đường tắt đi đến Phật quả, bởi đây là pháp môn tự lực gồm tha lực vừa tự độ mà thêm có sức bên ngoài của Phật hỗ trợ, nhưng hành giả phải có đủ 3 món tư lương gồm Tin sâu, Nguyện thiết, Hành chuyên như vậy mới thành tựu ý nguyện Vãng sanh. Được như thế thì ví như cọp thêm sừng, như ngài Vĩnh minh Thiền sư cho biết:

           Có Thiền tông có Tịnh độ,

                    Như thêm sừng cho mãnh hổ.

                    Hiện tại làm thầy người,

                    Vị lai làm PHẬT TỔ.

Nên:

                          “Chỉ một kiếp Tây Phương hồi hướng,

                           Thoát mê đồ dứt cuộc luân hồi.” (Q.5)

* Phần phụ chú:

Nước bát công đức gồm:

Trừng thanh (lọc sạch)

Thanh lãnh (xanh mát)

Nhu nhiển (mềm dịu)

Cam mỹ (tốt đẹp ngọt ngào)

Nhuận trạch (trơn, bóng)

An hòa (làm cho thân thể, tinh thần yên ổn)

Trừ cơ khát (uống không khát, không đói)

Trưởng dưỡng chư căn (nuôi dưỡng gốc lành)

Sáu loài chim báu:

Cộng mạng (chim hai đầu)

                          Bạch hạc

                          Khổng tước (công)

                          Ca lăng tần dà

                          Anh vũ (chim két)

Xá lợi

Các loài chim này trong A-DI ĐÀ KINH có nói rõ là do ĐỨC A DI ĐÀ PHẬT hóa thân diễn pháp âm.

Ngôn bất tận từ, từ bất tận ý, không thể nói hết được cái Giáo pháp siêu mầu, vô lượng nghĩa của Đức Phật và của Đức Thầy. Chúng tôi chỉ trình bày qua sự hiểu của mình thôi, không thể hiểu hết cái Giáo pháp cao sâu huyền diệu của quý Ngài, mong quí độc giả niệm tình hoan hỉ, bổ chính… Chúng tôi thành thật biết ơn trước.

Lời cuối, Hồng-Liên kính chúc chư quí vị thân tâm thường an lạc, đạo quả sớm viên thành./.

        Nam-Mô A-Di-Đà  Phật

        Nam-Mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật

                       HỒNG LIÊN CƯ SĨ
 
Comments