2012/05/13 - So-Sánh NGŨ-UẨN

SO-SÁNH NGŨ-UẨN

                          “Lời Ta dạy hãy nên suy nghiệm

                           Phải phá tan Ngũ-Uẩn trong mình.”

                                                   (Giác Mê Tâm Kệ)

         NGŨ-UẨN: là năm món nhóm họp lại che khuất tâm trí chúng sanh, nên chúng sanh bị mê mờ tăm tối, không nhận biết giả thiệt, nên phải chịu luân-hồi thống khổ.

         Hôm nay, chúng tôi xin trình bày NGŨ UẨN của Đức Phật và của Đức Thầy, giống nhau ở điểm nào và khác nhau ở điểm nào, qua sự hiểu biết và nghiên cứu của riêng mình, nếu quí vị nào có xem qua xin hoan hỉ, bổ chính chỗ còn khiếm khuyết, chúng tôi thành thật biết ơn.

         Bởi vì giáo lý của Đức Phật và của Đức Thầy  cao sâu, huyền bí còn sức học hỏi tìm tòi của chúng tôi còn hạn hẹp và nông cạn, nhưng cũng ráng hết sức mình trình bày cái đề tài nầy, để hầu tránh sự hiểu lầm giữa đạo Phật và Phật-Giáo Hòa-Hảo, bởi vì tuy hai nhưng chỉ có một mà thôi.

         Đức Phật cho biết Đạo là tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên, hay là pháp bất định pháp, tùy cơ ứng biến, tùy trình độ và  hoàn cảnh mà giáo hóa, cho phù hợp. Cho nên có câu: “Y kinh diễn nghĩa tam thế  Phật oan.” (Y theo kinh mà giải nghĩa là oan cho Phật ba đời). Vì căn cơ trình độ của mỗi người có khác nhau, tu cao thấp khác nhau, trí ngu khác nhau, độn căn lợi căn khác nhau, và thời đại khác nhau, nên Đức Phật lập ra nhiều thừa, thuyết nhiều Kinh pháp, dùng nhiều phương tiện, cho phù hạp, ví như ông thầy thuốc cũng tùy bịnh cho thuốc.

                          Lúc làm gỗ cho người chạm-trổ

                          Lúc thì làm búa bổ vào tường

                          Khi nhu hòa khi phải cang cường

                          Cần phải biết tùy phương hóa độ

                          Hoặc dùng khổ cứu người nghèo khổ

                          Hoặc dùng sang để độ người sang

                          Hoặc dùng dân để thức tỉnh quan

                          Hoặc dùng lấy quan quyền tế thế

                          Cứu được kẻ nào đâu phải dễ

                          Thiếu hy sinh không thể giúp đời

                          Lại phải còn tùy cảnh tùy thời

                          Đặt phương tiện đến nơi đến chỗ.

                                                   (Thần cơ thật luận - Thanh-Sĩ)

                          “Tùy phong hóa dân sanh phù hạp,

                            Chấp bút thần tả ít bổn kinh.”

                                                   (Diệu Pháp Quang Minh)

                          “Tuy phải dụng thiên kinh vạn pháp,

                            Vì muốn cho phù hạp tánh căn.

                                  Chung qui có thể nói rằng,

                 Cũng đồng nghĩa bước ngược đàng trần duyên.”

                                                   (Thanh-Sĩ)

NGŨ UẨN CỦA PHẬT THUYẾT

 

         Phật thuyết Bát-Nhã Tâm Kinh, Quán tự tại BÔ-TÁT hành thâm Bát-Nhã Ba-la-Mật-đa thời chiếu kiến NGŨ UẨN giai không, độ nhứt thiết khổ ách: (NGÀI QUÁN TỰ-TẠI BỒ-TÁT đi sâu vào trí-huệ soi thấy 5 UẨN đều không thật có, nên NGÀI đã vượt qua tất cả nạn khổ, tai ách, nghĩa là thoát khỏi sanh tử luân-hồi thống khổ).

         Quán: xem xét.

         Tự-tại: “Tự là thể tánh tự nhiên, Tại là còn mãi không thay đổi.” (Tự-Tại nghĩa là thể tánh tự nhiên không thay đổi), không bị ràng buột trong một pháp nào, tất cả các pháp không làm chướng ngại.

                          “Miễn tâm được hư vô tồn tại,

                           Sống trên đời hối cải tiền phi.

                           Sống làm sao vẹn chữ tu-mi,

                           Sống vùng vẫy râu mày nam tử.

                           Tự như nhiên oai phong Thiên tứ,

                           Bút Thần Linh mượn mực tay đề.”

                                                   (Nang Thơ Cẩm Tú)

         BỒ-đề TÁT-đỏa: Là giác hữu tình (độ những chúng sanh có nhân duyên).

         BÁT-NHÃ: Tàu dịch là TRÍ HUỆ

         BA-LA MẬT-ĐA: Tàu dịch là đáo BỈ-NGẠN (đến bờ giác), cũng gọi là Vô lậu (nghĩa là không còn bài tiết phiền não).

         NGŨ UẨN:  Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức.

        1.- SẮC: Chỉ cho tất cả pháp tướng;

         Đức Phật truyền cho Ngài Ca-Diếp:

                          Pháp, pháp bổn vô pháp

                          Vô pháp, pháp diệc pháp

                          Ngã kim phó vô pháp

                          Vô pháp hà tằng pháp.

                                                   (Pháp Hoa Niết Bàn)

         Tạm dịch:

                          Pháp gốc không có pháp

                          Không pháp cũng là pháp

                          Nay ta truyền vô pháp

                          Vô pháp nào có pháp

         Kinh Bát-Nhã có đoạn Phật thuyết rằng:“Sắc tức thị không, không tức thị sắc, sắc bất dị không, không bất dị sắc.” (nghĩa là: tướng tức là không, không tức là tướng, tướng chẳng khác không, không chẳng khác tướng). Thế nên đối với có không ta phải bình đẳng không nên thiên chấp, hễ chấp là lệch, bởi vì tất cả là một, một là tất cả, đều là dùng làm phương tiện, không phải chỗ tuyệt đối, đi đến chỗ tuyệt đối không dùng pháp nào, dùng là để tùy duyên hóa độ chúng sanh.

                          “Pháp còn có sự chấp tâm pháp tà.”

                                                            (Thanh Sĩ)

                          “Chúng sanh mê nên đem pháp thuyết,

                           Giải thoát rồi pháp bất khả dùng.”

                                                            (Diệu Pháp Quang Minh)

         Trong Kinh Kim Cang, Phật Kệ rằng:“Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, nhược kiến chư tướng, phi tướng tất kiến Như-Lai.” (Phàm chỗ có tướng, đều là hư dối không thật, nếu thấy các tướng, mà lìa tướng nghĩa là tâm không chấp trước, dính mắc, là thấy được Như-Lai).

         “Như-Lai giả vô sở tòng lai, diệc vô sở khứ.” (Như-Lai là y vậy không thay đổi, nghĩa là không ở đâu đến, đến chẳng đi đâu).

         “Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như-Lai.” (Lấy sắc tướng mà cầu thấy Ta, dùng âm thanh mà muốn thấy Ta, đó là người hành theo tà đạo, thì chẳng thấy được Như-Lai).

         Đối với các pháp là huyễn giả, nên Phật không có dùng, như có dùng chỉ là phương tiện độ chúng sanh tầm ra chơn lý, “dĩ huyễn độ chơn” chớ tâm không vướng mắc, nên 49 năm thuyết pháp độ chúng sanh, mà Ngài nói rằng: Ta có thuyết lời nào đâu, vì chúng sanh mê nên Ngài mới chuyển pháp độ đời, chớ pháp không làm chướng ngại được Bản-lai Thanh tịnh của Ngài.

                               Đời thay mình chẳng hề thay,

                          Cùng chư Bồ-Tát Như-Lai đồng thiền.

                                                            (Thanh Sĩ)

                          Tình đạo Phật tuy im mà động,

                          Động vì người chẳng móng vì mình.

                          Tình trong thảm khổ nhơn sanh,

                          Nhơn sanh càng khổ Phật tình càng tăng.

                                                            (Thanh Sĩ)

         Xét thấy rằng Phật vào nơi sanh tử là vì chúng sanh chịu đau khổ trong biển sanh tử, là do động lòng, động ở đây là động lòng Từ Bi thương xót chúng sanh, không động vì cá nhân mình, động mà không đắm nhiễm, nên gọi là BẢN LAI THANH TỊNH (thể tánh xưa nay vốn trong sạch).

                          “Các Chư Phật không khi nào rảnh,

                            Tâm Từ Bi vẫn nhớ chúng sanh.”

                                                            (Kệ dân của người Khùng)

         Đây cũng gọi là Niết Bàn Diệu Tâm (Tâm thể vắng lặng, không bị chướng ngại, không bị vướng mắc một pháp nào, dù pháp đó có hay là không vẫn bình đẳng, nên gọi là Niết Bàn, diệu dụng mọi phương tiện, không nghĩ bàn được, đo lường được nên gọi là Diệu Tâm tức Tâm Từ, Bi, Hỉ, Xả nhà Phật gọi là Tứ Vô Lượng Tâm). Đức Thầy gọi là 4 ĐẠI ĐỨC, đó cũng là Chơn Như Tâm là Tâm Chơn thật không thay đổi, đối lại với vọng tâm.

                          Vọng tâm cứ đổi thay không dứt,

                          Nhưng chơn tâm chẳng chút đổi dời.

                          Như hư không như ánh mặt trời,

                          Xưa cũng thế nay thời cũng thế.

                                                   (Thanh Sĩ)

         Phàm phu chấp: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh.

         Nhị thừa chấp: vô Thường, vô Lạc, vô Ngã, vô Tịnh.

         Phật cho là Chơn Thường, Chơn Lạc, Chơn Ngã, Chơn Tịnh.

         Đây là 4 Đức Niết-Bàn.

         Đây cũng gọi là GIÁC TÁNH CHƠN NHƯ, không vọng động, không chấp trước, chơn thật không hư dối.

         Trong bài “Tỉnh bạn trần gian” Đức Thầy  có câu:

                          “Nhân ngã, ngã nhân đừng cách biệt,

                           Sắc không, không sắc chớ lìa xa.”

         Đối với các pháp có không, ta và người đều bình đẳng thì Sắc uẩn sẽ không có, nên gọi là “Vô pháp tướng mới là thiệt tướng.”

         Không còn bị vướng mắc nên không còn khổ ách, nên tự tại an vui:

                                  An vui tịch tịnh Niết-Bàn,

                          Không còn bị mắc trong hàng tử sanh.

                                                            (Thanh Sĩ)

        2.- THỌ: Tâm chấp nhận tất cả như Thất Tình: Hỉ (mừng vui), Nộ (nóng giận), Ái (yêu thương), (ganh ghét), Ai (buồn bã), Cụ (sợ sệt), Dục (ham muốn).

         Nếu chúng ta dùng trí huệ Vô lậu đi sâu vào tâm soi thấy Thọ uẩn là không có thật, bởi nó là vô thường, thoạt có thoạt không, luôn luôn thay đổi không dừng một chỗ.

         Nói tóm lại, chúng ta còn vương mang là còn chịu khổ, hết vương mang là hết khổ.

         “Thật tế lý địa, bất thọ nhứt trần, vạn hạnh môn trung, bất xả nhứt pháp” (cái tâm địa nếu chơn thật rõ ràng, là không chấp nhận thọ lãnh một pháp nào ở thế gian, nhưng trong muôn hạnh làm phương tiện không bỏ qua một pháp nào).

                          “Hiệu Lão sĩ ra đời thật tế,

                           Đem lời vàng dạy dỗ dương trần.” 

                                                   (Giác Mê tâm kệ)

        3.-TƯỞNG: là nhớ đến sự việc không đáng nhớ, và không quên được, nên phải chịu khổ. Đức Thầy cho biết: (trong mục tà niệm) Còn cũng tưởng, mất cũng tưởng, có cũng tưởng, không cũng tưởng, thành cũng tưởng, bại cũng tưởng, thương cũng tưởng, ghét cũng tưởng…nên phải bị thất tình, lục dục làm khổ, nếu chúng ta đi sâu vào trong tâm dùng trí huệ, giác ngộ soi thấu, thấy tất cả: có không, còn mất, thành bại, thương ghét, đều là không có thật, thì phiền não không còn, nên không còn khổ ách.

                           “Tâm chánh niệm thường thường suy nghĩ,

                            Vật ở trần như bọt nước làn mây.

                            Thân ta còn rày đó mai đây,

                            Của ấy cũng khi tan khi hiệp.”

                                                   (Khuyến Thiện)

        4.- HÀNH: là hành động của tâm: tâm tạo tác.

         Con người hay có thiên ban bách kế (con người có ngàn mưu trăm kế) mưu tính thắng thua, hơn thiệt, nên tâm con người không lúc nào yên tĩnh. Tính hết mưu lược này, đến kế hoạch nọ, để dành phần thắng hơn, không bao giờ chịu thua thiệt, nên con người cứ mãi mãi sanh tử luân hồi thống khổ.

          Nếu chúng ta đi sâu vào trí huệ, giác ngộ soi thấu, biết rõ mọi việc, hễ thắng thì có thua, hễ có muốn hơn là có chịu thiệt, thì chúng ta không thắng là không có thua, không muốn hơn thì không có cái chịu thiệt, nhờ vậy mà chúng ta không còn chịu khổ ách.

         “Thế vô bách tuế nhơn” (Trong đời không có người trăm tuổi)

         “Uổng tác thiên niên kế” (Lo kế hoạch ngàn năm thật là rất uổng công)

                          “Kẻ nhứt dạ thường sanh bá kế,

                           Để gạt người làm thế cho mình.

                           Ngày sau này lắm nỗi tội tình,

                           Sao sanh chúng chẳng lo cải sửa.” 

                                                   (Giác Mê tâm kệ)

         Cổ đức có câu: 

                          Tạc bích xuyên tường chí nghĩ đâu

                          Thiên ban, bách kế khổ vinh cầu

                          Kim sanh cẩu đắc tha nhơn vật

                          Bất giác chung thiên thọ mã ngưu.

         Tạm dịch:

                          Khoét vách đào tường chí nghĩ đâu

                          Ngàn mưu, trăm kế nhọc lòng cầu

                          Của người dù có đời nay được

                          Chẳng biết muôn đời kiếp ngựa trâu.

        5.-THỨC: Là cái biết phân biệt:

         - Nhãn thức (mắt thấy phân biệt đẹp xấu, trắng đen, xanh đỏ, tím vàng). Phân biệt như vậy hễ đẹp là vọng niệm mê say, xấu lại chê bai, nhờm gớm.

         - Nhĩ thức (lỗ tai nghe phân biệt âm thanh dở hay, lớn nhỏ, rè thanh…) Hễ nghe vừa lỗ tai sanh lòng ưa thích, không vừa lỗ tai thì chán ghét.

         - Tỷ thức (mũi ngửi phân biệt thơm hôi). Hễ mùi thơm tho thì khoái chí vui thích, hôi hám là bực bội buồn chán.

         - Thiệt thức (lưỡi nếm mùi vị phân biệt ngon dở, mặn lạt, cay đắng, ngọt bùi). Hễ ngon vừa miệng thì ưa thích, dở thì ngán chê không thèm, không chịu dùng.

         - Thân thức (thân chạm xúc phân biệt, lạnh nóng, cứng mềm, ấm mát). Hễ ấm mát, mềm mại thì thấy dễ chịu vui vẻ, nóng lạnh, cứng thì khó chịu , sanh bực bội.

         - Ý thức (ý phân biệt giàu nghèo, có không, nhân ngã, cao thấp, mập ốm, quan dân, người sang, kẻ hèn, người trên, kẻ dưới, người lớn, kẻ nhỏ, nước này văn minh, nước kia lạc hậu, quốc gia mạnh, quốc gia yếu, trí ngu, người vật ..vv..). Hễ giàu có khi dể nghèo hèn, nghèo hèn ganh ghét kẻ giàu, trên xem thường dưới, dưới cũng chẳng nể trên, quan mạt sát dân ngu, dân thù oán quan trên:

                          Trong nhà đạo chấp câu vô hữu,

                          Ngoài trường đời bám sự ngã nhân.     

                                                            (Thanh Sĩ)

         Người chấp không, chẳng ưa người chấp có, người chấp có, không ưa người chấp không, hễ bàn luận thì chỉ đưa đến cải vả không có ích lợi chi, mà chỉ có hại cho tâm đạo.

         Nói tóm lại, vì sự phân biệt của cái Thức nên sanh ra muôn ngàn nghiệp khổ mà chúng sanh nào biết:

                          Nào Thánh chiến vô cùng khủng khiếp,

                          Nào Đảng tranh chấn động Đất Trời. 

                                                            (Thanh Sĩ)

         Muốn thoát khỏi khổ ách, vâng theo lời của Phật dạy sống với cái tâm bình đẳng, có cái tình yêu chung, không phân biệt có không, giàu nghèo, đến như cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái ăn, cái thân chạm xúc, cái ý biết thấy, đối với các pháp đều coi như nhau, đồng nhau thì đâu còn cái phân biệt, nên gọi là bình đẳng, bình đẳng mà không bị đắm nhiễm, không đắm nhiễm, thì không có gây nghiệp, không gây nghiệp thì làm sao có cái khổ.

         Kết Luận: Khi chúng ta dùng trí huệ đi sâu vào con đường giác ngộ thấy biết thông suốt 5 uẩn đều không thật có, thì tâm không còn tạo tác thành nghiệp thức, thì làm gì có nghiệp sanh tử, nếu không có sanh tử luân hồi, thì làm gì có khổ ách, như vậy chúng ta đã chứng tự tánh Thanh tịnh Niết-Bàn.

                                  Vào ra trong chốn ăn chơi,

                 Như trăng thu nọ lội bơi trong hồ.

                          Trăng cũng chẳng nhiễm ô được nước,

                          Nước không hề cầm được bóng trăng.

                                  Tự do đi lại ngày hằng,

                 Không phiền ai đón ai ngăn được mình.

                          Sắc chi cũng không chinh được mắt,

                          Mắt tự do ngắm vật trong ngoài.

                                  Đẹp không vọng niệm mê say,

                 Xấu không sanh khởi ý gì chán chê.

                          Tiếng chi cũng không làm tai mến,

                          Tai tự do nghe tiếng dở hay.

                                  Dở không buồn chán nơi tai,

                 Hay không buộc phải chuyển lay nơi lòng.

                          Mùi chi cũng chẵng lung được mũi,

                          Mũi tự do để ngửi các mùi.

                                  Thơm không làm nảy ý vui,

                 Hôi không thể khiến cho khơi lòng buồn.

                          Vì chi cũng chẳng sờn được lưỡi,

                          Lưỡi tự do để thử các vì.

                                  Ngon không làm mến ưa chi,

                 Dở không sanh khởi ý gì chán chê.

                          Cọ đụng chẳng làm mê thân xác,

                          Thân tự do đụng các lạnh nồng.

                                  Lạnh nồng không nhiễm được lòng,

                 Cứng mềm cũng chẳng trói tròng vào tâm.

                          Vật chi cũng không làm động ý,

                          Ý tự do xử trí vật danh.

                                  Giàu nghèo ưa ghét chẳng sanh,

                 Có không cũng chẳng lấy tình chấp nê. 

                                                             (Thanh Sĩ)

                          “Cảnh Niết-Bàn là nơi cứu cánh,

                           Về chốn ni xa lánh hồng trần.”  

                                                            (Giác Mê tâm kệ)

                          “Cả vật vật đồng về Phật cảnh,

                           Chẳng luyến trần ảo ảnh gạt lường.

                           Nguyện cầu Chư Phật mười Phương,

                           Niết- Bàn Tịch-Tịnh là đường vô sanh.”

                                           (Bài nguyện trước bàn thờ Cửu Huyền)

 

NGŨ UẨN CỦA ĐỨC THẦY PHẬT GIÁO HÒA HẢO

 

         Vừa qua chúng tôi đã trình bày đại cương Ngũ Uẩn của Phật để so sánh tại sao Đức HUỲNH GIÁO CHỦ giảng về NGŨ UẨN lại có khác với Đức Phật xưa kia. Theo như chúng tôi nhận xét ở phần trên, các Đấng Cứu Thế khi ra đời cũng tùy duyên hóa độ chúng sanh cho phù hợp, không ngoài mục đích đưa chúng sanh đến bờ giải thoát, khổ sanh tử luân hồi.

                          “Lời Ta dạy hãy nên suy nghiệm,

                           Phải phá tan Ngũ Uẩn trong mình.”

                                                            (Giác Mê tâm kệ)

         Theo Giáo lý Phật-Giáo Hòa-Hảo, Ngũ Uẩn Tham, Sân, Si, Nhân, Ngã. Năm món nhóm họp làm che khuất Trí Huệ chúng sanh nên trí huệ mịt mù đen tối, nếu chúng ta phá dẹp được rồi thì trí huệ phát khai.

         Theo chúng tôi nhận xét, xưa kia Đức Phật có rộng thì giờ giáo hóa và chúng sanh vào thời chánh pháp, có nhiều duyên lành toàn là những bực lợi căn thắng đức, nói một hiểu mười nên Ngài dùng những lời cao sâu giáo hóa môn nhơn đệ tử, nên Pháp Ngũ Uẩn Ngài thuyết có tuần tự từ bên ngoài rồi đi sâu vào bên trong. Trái lại, pháp Ngũ Uẩn của Đức Thầy chỉ trực thẳng vào bên trong, cho chúng sanh đời nay dễ hiểu:

                          “Kể từ nay nói chuyện chiều mơi

                           Chớ chẳng nói dông dài khó hiểu.”

                                                   (Kệ dân của người Khùng)

 

        1- THAM: Là lòng ham muốn, đắm say Ngũ Dục: Danh, Lợi, Tình, Thực (ăn uống), Thùy (ngủ nghỉ) là năm thứ vui say thích thú, làm cho trí huệ lu mờ tăm tối, nên gây thành Nghiệp mãi mãi chịu sanh tử luân hồi thống khổ.

         Con người thường hay có những ý định làm cho mình được sáng thêm lên, được giàu thêm lên, được sung sướng thêm lên, nghĩa là những ý định hoàn toàn nhỏ nhen thấp thỏi, đây gọi là tà định.

         Nếu chúng sanh chạy theo những ý định nhỏ nhen thấp thỏi này thì phải chịu tối tăm, và phải chịu luân hồi mãi mãi.

         Nên Đức Thầy khuyến tấn:

                          “Chữ Tham trong ý muốn mặc tình,

                           Ráng định tánh trừ cho nó tuyệt.”

                                                   (Giác Mê tâm kệ)

         Hai câu Thánh Ngôn này Đức Thầy dạy chúng ta phải dùng chánh định (suy gẫm chơn chánh) mới có thể phá dẹp được lòng ham muốn.

                          THAM vốn là nguyên nhân sự khổ,

                          Tham là mồ vô số sanh linh.

                                  Tham danh tham lợi tham tình,

                 Càng tham càng bắt lòng mình không yên.

                          Tham khi được thì toan cất giữ,

                          Khi mất rồi sanh sự rầu buồn.

                                  Lúc nào cũng rạo rực luôn,

                 Phải tham là cái cội nguồn khổ chăng. 

                                                            (Thanh Sĩ)

         Đức Thầy cho biết ngày giờ nào loài người diệt được tánh ham muốn của mình, ngày giờ ấy bớt được một phần lớn của sự khổ:

                          “Muốn trừ Tham phải liệu cách nào,

                           Hãy bố thí diệt lòng ích kỷ.”

                                                            (Khuyến thiện)

        2- SÂN:  Là tánh nóng nảy, hay gây ra ganh ghét oán thù, hờn giận. Giận mất khôn, cơn giận làm cho con người cuồng trí, mất sự tự chủ, trở nên dữ dằn bạo tợn, chẳng còn nghĩ đến việc công bình lẽ phải trái. (mục Luận về Tam nghiệp).

         Người có tánh nóng nảy, thắng thì hay khoe khoang tự đắc kiêu hãnh. Người bại hổ ngươi (quê độ mắc cở) tìm cách trả thù, nên phải tranh tài đấu sức để có phân thắng bại đi đến chỗ sát hại nhau. Việc nhỏ trong gia đình sanh sự bất hòa, ngoài xã hội mất ổn định an ninh, xóm diềng gây gổ, còn việc lớn thì thế giới gây chiến tranh lẫn nhau cũng bởi vì thù oán. Muốn diệt sân hận theo Đức Thầy  dạy:

                          “Diệt được nó tâm trần thong thả,

                           Ta thường nên tập tánh khoan dung.

                           Thiệt hành đi đừng có ngại ngùng,

                           Tha thứ kẻ lỗi lầm ngu xuẩn.

                           Và nhẫn nhịn đừng ham tranh luận,

                           Khỏi mất lòng tất cả mọi người.

                           Tánh thuần lương vẽ mặt vui tươi,

                           Vậy mới đáng tín-đồ Phật Gíáo.

                           Nay ta đã quy y cầu đạo,

                           Gây gổ là trái thuyết Từ Bi.”

                                                            (Khuyến thiện)

         Tóm lại, chúng ta phải tu pháp nhẫn nhục (chịu đựng những sự oan ức) mới trừ được tánh sân hận. Sân hận trừ xong, oán thù chấm dứt, ganh ghét hờn giận không còn. Người trừ được tánh sân hận, trở thành con người bình tỉnh, trí huệ sẽ mở mang, mọi người thương yêu kính trọng, địa ngục bế cửa, thiên đường mở ngõ, thong dong tự tại.

         Học xong chữ Nhẫn, Niết bàn không xa (Mười Điều khuyến tu của Phật Thầy Tây An).

        3- SI: Là mê muội tối tăm, không nhận được đâu là thật, đâu là giả, thế nào là chơn chánh, thế nào là tà ngụy và đâu là tội phước:

                          “Ác thứ mười đoạn chót Mê si,

                           Nguyên tăm tối từ hồi vô thỉ.

                           Màn vô minh che mờ căn trí,

                           Nên thường khi nhận ngụy làm chơn.”

                                                            (Khuyến thiện)

         Vì cái tối tăm ngu dốt nên hành động tạo thành Ác nghiệp, phải chịu luân hồi sanh tử mãi mãi trong ba nẻo sáu đường thống khổ. Đức Phật cho biết cái nỗi khổ của con lừa kéo xe, nỗi khổ của quỉ đói, cũng không bằng cái khổ của kẻ Mê Si tăm tối không biết tìm đường ra khỏi luân hồi sanh tử. Muốn giải trừ nghiệp mê si, trước hết chúng ta nương theo giáo lý của Đức Phật cố gắng học hỏi tìm tòi nghĩa lý rồi cố gắng thực hành, cho mở khai trí huệ, như thế mới đoạn được nghiệp mê si:

                          “Diệt mê si phải nương thuyền giác,

                           Muôn việc làm chánh trực khôn ngoan.”

                                                            (Khuyến thiện)

                          “Nhơn sanh hiếu nghĩa dĩ vi tiên,

                           Hành thiện tri kinh thị sĩ hiền.

                           Kiếm huệ phi tiêu đoàn chướng nghiệp,

                           Phật tiền hữu nhựt vĩnh an nhiên.”

                                                            (Hiếu Nghĩa vi tiên)

                          “Kiếm Huệ dứt xong rồi quả báo,

                           Lo gì cửa Phật chẳng chen vào.”

                                                            (Cho cô Năm Võ thị Hợi)

         Nói Tóm lại: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục để độ Tham, Sân, Si.

         “Bất úy tham sân khởi duy khủng tự giác trì.” (Chẳng sợ tham sân khởi, chỉ sợ mình giác chậm) không kịp trừ nó mà hành động đã tạo nghiệp, rồi phải chịu quả báo. Vì vậy, ta nên:

                          “Mài gươm trí cho tinh cho khiết,

                           Dứt tâm trần kiếm chữ sắc không.” 

                                                            (Giác Mê tâm kệ)

                          “Thêm chữ Si thiệt quá lòng dòng,

                           Nên tỉnh trí tìm nơi dập tắt.”

                                                            (Giác mê tâm kệ)

                          “Tình yêu con đem đi yêu chúng,

                           Tánh lo tư để dụng lo công.

                           Tất nhiên cùng Phật một lòng,

                           Mê không thể có, tội không thể làm.” 

                                                            (Thanh Sĩ)

        4 & 5- NHÂN & NGÃ: là tâm phân biệt người và ta, tâm không bình đẳng. Sang giàu đối với nghèo hèn, quan quyền đối với dân đen, người trí đối với kẻ ngu, lớn đối với nhỏ, học thức đối với kẻ ngu dốt, dữ đối với hiền, vì sự bất bình không đồng nhau, nên sanh ra những sự xem thường và ganh ghét hờn giận, nên phải khổ sở.

         Như người giàu sang thấy ai nghèo hèn thì khinh dể xem thường. Trái lại nghèo hèn thấy ai giàu sang thì sanh lòng ganh ghét, cũng có khi giàu với giàu tranh cạnh nhau, rồi oán ghét nhau.

         Quan ỷ thế mạt sát dân ngu, dân ngu sanh lòng oán hận, nên chờ trả đủa.

         Người trí mánh khóe lợi dụng kẻ ngu, kẻ ngu khi biết được oán thù. Học thức chê bai kẻ dốt nát, kẻ dốt oán giận. Kẻ hung dữ hay húng hiếp người hiền, gây hậu quả phải chịu đau khổ.

         Nói tóm lại, nếu trong cửa đạo hay là ngoài đời nếu ăn ở đối xử mất sự công bằng bình đẳng, thì đau khổ sẽ tiếp nối mãi mãi không dứt, phải luân hồi đền trả, dù vua quan, dân thứ, sang hèn, trí ngu, già trẻ cũng đều thọ khổ như nhau.

         Muốn trừ lòng nhân ngã phải xóa bỏ giai cấp, sống với tình thương chung và tinh thần bình đẳng:

                        “Ta đã đa mang một khối tình,

                         Dường như thệ hải với sơn minh.

                         Tình yêu mà chẳng riêng ai cả,

                         Yêu khắp muôn loài lẫn chung sinh.” 

                                                   (Tình yêu Nhân loại)

                        “Biết chừng nào được qui nhứt thống,

                         Khắp hoàn cầu dân biết thương nhau.

                         Nhắc ra thì dạ ngọc đớn đau,

                         Không nhắc đến biết đâu dân sửa.” 

                                                   (Giác Mê tâm kệ)

         Kết Luận: Ngũ Uẩn của Phật thuyết và của Đức Thầy thuyết tuy là khác nội dung, theo chúng tôi nhận thấy cùng mục đích là hướng dẫn cho chúng sanh đến bờ giải thoát, thành Phật Quả, không có khác, bởi vì đạo phải tùy duyên hóa độ, không nhứt định một pháp nào.

         Bịnh có nóng lạnh, thuốc có ôn lương, nên thầy cho thuốc miễn sao hết bịnh là thầy giỏi.

         Chúng sanh có trí ngu, thắng liệt, lợi căn, độn căn khác nhau. Thời chánh pháp, mạt pháp khác nhau nên Đức Phật và Đức Thầy  sự giáo hóa có khác nhau. Như Đức Phật chủ chương có hai hạng người xuất gia và tại gia, còn Đức Thầy  ngày nay chỉ có chủ chương tại gia Cư sĩ mà thôi, nhưng mục tiêu Tôn chỉ hành đạo là đưa chúng sanh thoát khỏi luần hồi sanh tử. Mục tiêu của Đạo Phật là cứu chúng sanh giải thoát khổ:

                          Đạo Phật vốn là nơi cứu khổ,

                          Độ chúng sanh không bỏ một ai.

                          Lòng thương yêu khắp muôn loài,

                          Không hề để một ai khổ trần.          

                                                            (Thanh Sĩ)

                          “Chữ nhân ngã thật là quá gắt,

                           Ta chớ nên phân biệt với người.

                           Dẹp năm tên được mới mừng cười,

                           Vô pháp tướng mới là thiệt tướng.”    

                                                            (Giác Mê tâm kệ)

         Khi quí vị có xem qua đề tài mà chúng tôi vừa trình bày, chắc cũng còn nhiều chỗ khiếm khuyết, ngưỡng mong quí vị phê bình và bổ chính. Chúng tôi thành thật biết ơn trước.

         Lời chót chúng tôi kính chúc quí vị sức khỏe được dồi dào, tinh thần được sáng suốt, Bồ đề tâm kiến cố, đồng đăng Phật cảnh, đồng ngộ Phật tâm, đồng thành Phật đạo./.

                       Nam-Mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni  Phật !

                       Nam-Mô A-Di- Đà Phật !

                              HỒNG LIÊN CƯ SĨ
 
Comments