2012/05/10 - THẾ NÀO LÀ ĐA PHƯỚC

THẾ NÀO LÀ ĐA PHƯỚC

 

                          “Trong một nước nhân tài hữu dụng,

                           Kẻ tu hành đa phước thì nên.”

         PHƯỚC: gọi chung là PHƯỚC-ĐIỀN (hay là ruộng phước).

         Hôm nay chúng tôi mạo muội trình bày đề tài “đa phước” theo sự nghiên cứu của mình, mong rằng quí đồng đạo xem qua bổ chính dùm chỗ còn khiếm khuyết, chúng tôi thành thật biết ơn trước.

         Đa phước là nhiều phước, theo chúng tôi nhận thấy, phước tuy nhiều nhưng tóm gọn lại gồm có 3 phần chính.

        A- THẾ GIAN PHƯỚC: gồm bi điền, kính điền, ân điền.

        B- GIỚI PHƯỚC: gồm tất cả luật nghi của PHẬT chế ra.

         C- XUẤT THẾ GIAN PHƯỚC: gồm các pháp tu Giải-Thoát.

A- THẾ GIAN PHƯỚC

1- BI ĐIỀN: Là có lòng yêu thương và cứu giúp người nghèo khổ hoạn nạn, hoặc là phóng sanh lợi vật, đó là thể hiện lòng TỪ-BI.  

          Nói tóm lại: Bi-Điền là ruộng phước lợi lạc cho tất cả quần sanh,    không còn phân biệt người hay là vật, đều thương xót như nhau, nếu hành được BI-ĐIỀN sẽ đạt được đức tánh Bình-Đẳng.

                          “Phải giúp cho kẻ đói mới nhằm.

                           Đến loạn ly khổ hạnh khỏi lâm,

                           Còn hơn đúc chuông đồng Phật bự.”

(Giác Mê tâm kệ)

         Hoặc: 

                          “Ta đã đa mang một khối tình,

                           Dường như thệ hải với sơn minh.

                           Tình yêu mà chẳng riêng ai cả,

                           Yêu khắp muôn loài lẩn chúng-sanh.” 

(bài Tình Yêu của Đức Thầy)

2- KÍNH ĐIỀN

                          “Hơn năm dư quyết chí duy trì,

                           Truyền sanh chúng phải kính thờ Trời, Phật.”

                                                   (Trao lời cùng ông Táo)

         KÍNH PHẬT: là lễ PHẬT “giả kính PHẬT chi ĐỨC” (lạy Phật là nói lên sự hết lòng tôn kính PHẬT). Vả lại, lạy Phật một lạy tội diệt Hà-Sa, niệm Phật một niệm phước sanh Vô-lượng.

         Phật là đấng toàn thiện toàn mỹ bác-ái vô cùng quyết cứu vớt sanh linh ra khỏi vòng trầm luân khổ hải. Vì vậy ta phải biết kính trọng Phật:

                          “Cứu khổ NAM-MÔ vô lượng phước,

                           Diệt nàn tu-rị hữu thiên kinh.”

                                                   (Tỉnh bạn trần gian)

         KÍNH PHÁP:  Ngoài kính PHẬT chúng ta cũng còn phải trọng Pháp.  Đối với PHÁP, chúng ta kính trọng là phải thường đọc tụng, hoặc in-ấn truyền bá, và tìm hiểu nghĩa để hành trì Kinh kệ giúp chúng ta mở khai trí-huệ, nên chúng ta phải biết tôn trọng.

                          “Ai làm phước in ra mà thí,

                           Thì được nhiều hạnh phúc sau này.”

                                                   (Giác Mê Tâm Kệ)

         KÍNH TĂNG: Đức Thầy dạy: “Tất cả bổn đạo nên cung kính các tăng sư tu hành chơn chánh.” (Quyển 6)

         Chư tăng có Tứ hoằng thệ nguyện, là ruộng phước thế gian, nên chúng ta phải biết trọng kỉnh.

         Phụ chú: Tứ hoằng thệ nguyện là:

                          “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ

                           Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn

                           Pháp môn vô lượng thệ nguyện học

                          Phật đạo vộ thượng thệ nguyện thành.”

         Tóm lại: Kính điền nghĩa là biết kính trọng PHẬT, PHÁP, TĂNG. Nếu biết kính trọng như thế chúng ta sẽ có đủ phước duyên và công đức, đầy đủ duyên lành thì chắc chắn tu hành sẽ công thành quả mãn.

                          “Đó rán tầm đường đến cảnh Tiên,

                           Thú vui phong-nguyệt lắm ưu phiền.

                           Lòng phàm rửa sạch niềm nhân ngã,

                           Phước Phật trau giồi kết thiện-duyên.”

                          “Thiện duyên ấy cũng tại nơi ta,

                           Hộ niệm oai linh Đức Phật-Đà.

                           Sớm, tối, đi, nằm y Chánh-Pháp,

                           Thầy nguyền dắt đến cảnh Long-Hoa.”

                                  (Cho Ô. Hạnh rể của Ô. ký Giỏi ở Bạc Liêu)

3- ÂN ĐIỀN

                          “Nhơn sanh hiếu nghĩa dĩ vi tiên

                           Hành thiện tri kinh thị sĩ hiền.”

                                                   (Hiếu nghĩa vi tiên)

         Nghĩa là người con phải biết ơn và ăn ở hiếu thảo với bậc ân điền (là ăn ở biết hiếu thảo đối với cha, mẹ, ông, bà).

                          Tu cho rõ mối huyền thâm,

                 Quy đầu PHẬT, PHÁP khỏi lâm tai nàn.

                          Phước đức quí hơn bạc vàng,

                 Những người bạc ác giàu sang ích gì.

                          Chi bằng ăn ở nhu mì,

                 Nghe lời PHẬT THÁNH kính vì người trên.

                          Hiếu trung lòng chớ vội quên,

                 Sống lo trọn đạo thác lên tiên đài.

                                                   (Khuyến thiện)

         THÁNH NHƠN có câu:

         “Hiếu chí ư Thiên phong vũ thuận thì.” (Hiếu thấu lòng Trời thời tiết mưa hòa gió thuận).

         “Hiếu chí ư Địa vạn vật hóa thạnh.” (Hiếu thấu lòng Đất vạn vật sung tốt xanh tươi).

         “Hiếu chí ư nhơn tắc phước chúng lai trăn.” (Hiếu đến lòng Người phước gồm về mình).

         Nói tóm lại, Thế gian phước là phước báo cõi nhân thiên, phước này là TU NHÂN, để làm nền tảng cho HỌC PHẬT, người tu hành không thể thiếu được.

                          Lấy tâm NHÂN ĐẠO hành PHẬT ĐẠO,

                          NHÂN ĐẠO hoàn thành PHẬT ĐẠO siêu.    

                                                            (Thanh-Sĩ)

B- GIỚI PHƯỚC

                          “Chữ Nam-Mô trì giái giữ chay,

                           Chay được tánh chay tâm mới quí.”

                                                            (Sa Đec)

         GIỚI gọi đủ là Giới-luật do Đức Phật và Đức Thầy chế ra, người tín đồ Phật tử phải gìn giữ, không thể thiếu được.

         ĐỨC PHẬT cho biết rằng:“Giới thị thứ sư, nhựt nhựt do lai đa khoái lạc.” (nghĩa là giới là ông thầy thứ hai, ngày ngày hành trì sẽ được nhiều khoái lạc) bởi vì Phật là ông thầy thứ nhứt nên giới luật gọi là ông thầy thứ hai.

         Theo tạng luật có câu: “Phật tương thì Niết-Bàn, thời thời hối thúc đệ tử, y ba-la đề mộc xoa, vi sư” (Phật sắp vào Niết-Bàn, thường ngày hối thúc đệ tử y theo tạng luật mà làm thầy).

         Người tu hành nghiêm trì giới luật là phước điền (ruộng phước) của chúng sanh, bởi vì đã trọn lành, nếu giữ tròn vẹn tinh nghiêm là bậc chứng TU-ĐÀ HOÀN, không còn thối chuyễn nữa, nhưng còn trở lại thế gian bảy lần để lập công bồi đức, để tiến hóa, nên gọi là “thất lai”.

         Giới luật có bảy bậc: căn cứ theo PHẬT GIÁO không ngoài luật: TRÌ PHẠM, KHAI, GIÁ (việc nên làm thì làm là TRÌ, việc không nên làm mà làm gọi là PHẠM, việc bất đắc dĩ phải làm như nói gạt để cứu người nên phải nói, gọi là KHAI, giữ gìn chắc chắn không vi phạm gọi là GIÁ).

         1- Ngũ giới (5 giới) của hàng tại gia.

         2- Bát quan trai giới (8 giới) của hạng chuẩn bị xuất gia.

         3- Sa di khu ô thập giới (10 giới) Sa di đuổi quạ là hạng mới xuất gia.

         4- Sa di luật là hạng được tu học không còn đuổi quạ nữa.

         5- Tỳ kheo tăng là khất sĩ, thọ trì cụ túc giới 250 giới.

         6- Tỳ kheo ni thọ trì 348 giới.

         7- Bồ-tát giới gồm 10 giới trọng, 48 giới khinh. (căn cứ theo Kinh Phạm-Võng).

         Chúng tôi chỉ nói đại cương mà thôi, quí vị hãy xem qua tạng luật, gồm của hàng tại gia và hạng xuất gia, cùng Bồ-tát giới trong Kinh Phạm-Võng để tìm hiểu thêm, mong quí vị hoan hỉ.

         Ngoài bậc giới luật, ĐỨC PHẬT còn chế Tam tụ tịnh giới:

         1- Nhiếp Luật nghi giới:

         Gồm giữ luật lệ nghi giới, đề ngăn ngừa tội lỗi, diệt trừ hành động                                            thô và hành động vi tế của ác nghiệp.

         2- Nhiếp Nghiệp Thiện Giới:

         Là nghiêm trì thiện giới (làm hết các việc lành, dù lớn hay nhỏ. Khẩu nói lời lành, thân làm lành, ý nghĩ lành).

                          “Xúc miệng tôi cũng lắng lòng,

                 Ngậm nước như ngậm trăm bông đủ mùi.

                          Cầu tịnh ba nghiệp xong xuôi,

                 Tây phương quyết đến chung vui Phật đài.”

                                           (Những câu chú thường niệm)

                          “Tưởng thanh nói chánh làm nhân,

                 Tuy mang phàm xác chớ thần thánh tâm.” 

                                           (Thanh Sĩ)

         3- Nhiêu Ích Hửu Tình Giới: (là độ rộng chúng hữu tình)

                              “Lòng quãng ái xót thương nhân chủng,

                                Buổi lố lăng Phật-Giáo suy đồi.

                                Kẻ tu hành ai nở yên ngồi,

                                Mà sớm kệ chiều kinh thong thả.”

                                           (Khuyến thiện)

         Khi chúng ta đã ngăn ngừa được nghiệp ác, làm hết tất cả nghiệp lành.

         Như vậy ta đã được trọn lành, phần tư giác (tự độ) đã xong, tiến thêm một bước nữa là phải giác tha (độ chúng sanh) nghĩa là dìu dắt chúng sanh đi đến chỗ trọn lành trọn sáng như mình.

        Nếu ta được trọn lành rồi mà không cứu giúp chúng sanh là ích kỷ, không thể đạt được đạo quả.

         Nói Tóm lại: Nhiếp luật nghi giới là tránh tất cả nghiệp ác, Nhiếp nghiệp thiện giới là làm hết các việc lành, Nhiêu ích hữu tình giới là độ rộng khắp chúng sanh, người tu hành phải thực hành trong Tam tụ tịnh giới không thể thiếu một, nếu thiếu một trong ba không thể thành PHẬT được .

                          “Tu mà giới luật không cầm,

                 Như cầu muốn bắt không mầm khó nên.” 

                                           (Thanh Sĩ)

         Điều cần yếu là phải:

                          “Làm hết các việc từ thiện,

                           Tránh tất cả những điều độc ác,

                           Quyết rữa tấm lòng cho trong sạch.”

                                           (Đường trung đạo)

GIỚI  LUẬT CỦA PHẬT GIÁO HÒA HẢO

         Theo chúng tôi nghiên cứu, tùy duyên khởi, căn cơ, trình độ và qua từng thời kỳ mà Đức Phật chế ra giới luật cho phù hợp, nên có giới tại gia và xuất gia, không nhứt thiết ở một bậc giới luật nào.

         Bàn xét như trên người tín đồ PGHH là thuộc về hạng tại gia Cư sĩ HỌC PHẬT TU NHÂN nên luật lệ nghi giới ĐỨC THẦY chế ra có khác với tăng đồ xưa nay, nhưng không ngoài việc làm lành lánh dữ và lợi lạc cho quần sanh, và cũng không ngoài phương tiện:

                          “Dìu Nhơn Sanh ra khỏi chốn mê lầm,

                           Bờ giác ngạn kiên tâm lần bước tới.” 

                                           (Cho Bác sĩ Cao triều Lợi)

         Nên ngài đã viết ra “Quyển 6, TÔN CHỈ HÀNH ĐẠO” cho thích nghi với thời đại hoàn cảnh, phù hạp mọi căn cơ trình độ, đây không khác với luật nghi giới của nhà PHẬT, chỉ có khác ở hình thức, phần nội dung và mục đích bên trong không có khác, nếu đem thực hành cũng để giải thoát khổ sanh tử luân hồi mà thôi.

         Như là luận về Tam nghiệp, luận về Bát chánh đạo, nói về Tứ ân, Nghi thức hành lễ, thờ phượng cúng lạy, ăn ở, những điều phải tránh hẳn,     hoặc châm chế, hoặc nên làm, đặc biệt là 8 điều răn cấm (Lời khuyên bổn đạo, v.v...)

Tám điều răn cấm có công năng như sau:

         “ĐIỀU THỨ NHỨT: Ta chẳng nên uống rượu, cờ bạc, á phiện, chơi bời theo đàng điếm, phải giữ cho tròn luân lý, tam cang, ngũ thường.”

         Nếu theo tôi nhận xét, hành được điều thứ nhứt là hoàn bị hạnh Tu Nhân. Bởi vì tứ đổ tường (4 vách tường) không đắm nhiễm, và giữ trọn kỷ cương lễ nghi, phong hóa, đạo vua tôi, đạo cha con, đạo chồng vợ và đạo ngũ luân, giữ được vẹn toàn.

         Ngũ thường:

         1- Hành được chữ Nhân: bất sát (không sát hại sanh mạng).

         2- Hành được chữ Nghĩa: bất đạo tặc (không trộm cướp).

         3- Hành được chữ Lễ: bất tà dâm (không dâm ái ngoại tình).

         4- Hành được chữ Trí: bất ẩm tửu (không uống rượu và 4 vách tường)

         5- Hành được chữ Tín: bất vọng ngữ (không nói dối).

         “ĐIỀU THỨ NHÌ: Ta chẳng nên lười biếng, phải cần kiệm, sốt sắng, lo làm ăn và lo tu hiền chơn chất, chẳng nên gây gổ lẫn nhau, hãy tha thứ tội lỗi cho nhau trong khi nóng giận.”

         Giữ được điều răn cấm thứ nhì có những lợi ích và công năng sau đây:

         - Đánh đổ được tánh “giải đãi” (biếng nhác). 

         - Đạt được đức “tinh-tấn” (siêng năng) cần cù.

         - Đạt được đức “kiệm tiết”: không xài phí vô ích, và thường làm lợi lạc cho mọi người, không phải bỏn xẻn.

         - Tu hiền chơn chất, là đạt được tánh hiền lành “chơn thật”.

         - Không sân hận, gây gổ, là đạt được đức “nhẫn nhục”.

         - Đạt được đức tánh “khoan dung”.

         “ĐIỀU THỨ BA: Ta chẳng nên ăn xài, chưng dọn cho thái quá và lợi dụng tiền tài mà đành quên nhân nghĩa và đạo lý, đừng ích kỷ và xu phụng kẻ giàu sang, phụ người nghèo khó.”

         Giữ được Răn Cấm thứ ba, có những công năng như sau:

         - Đạt được đức “cần kiệm”.

         - Đạt được đức “cương trực”.

         - Đạt được đức “công bằng”.

         - Đạt được đức “trung”

         - Đạt được đức “vô hại” (không lợi mình mà hại người).

         “ĐIỀU THỨ TƯ: Ta chẳng nên kêu TRỜI, PHẬT, THẦN, THÁNH mà sai hay hoặc nguyền rủa, vì Thần Thánh không can phạm đến ta.”

         Giữ được điều răn cấm thứ tư là chúng ta có lòng kính trọng bề trên và không phạm ác khẩu, nên khẩu nghiệp được thanh tịnh.

         “ĐIỀU THỨ NĂM: Ta chẳng nên ăn thịt trâu, chó, bò và không nên sát sanh hại vật mà cúng THẦN THÁNH nào, vì THẦN THÁNH không bao giờ dùng hối lộ mà tha tội cho ta, vì nếu ta làm tội sẽ hưởng tội, còn những hạng ăn đồ cúng kiếng mà làm cho hết bịnh là Tà Thần; nếu ta cúng kiếng mãi thì chúng ăn quen sẽ nhiễu hại ta.”

         Giữ được điều răn cấm thứ năm có những công năng lợi ích như sau:

         - Đạt được đức “Từ-Bi” không háo sát.

         - Không mê tín đạt được “chánh tín”.

         - Hiểu thấu triệt, tin sâu “luật nhân quả”.

         “ĐIỀU THỨ SÁU: Ta không nên đốt giấy tiền vàng bạc, giấy quần áo mà tốn tiền vô lý, vì cõi DIÊM-VƯƠNG không bao giờ ăn hối lộ của ta, mà cũng không xài được nữa, phải để số tiền ấy mà trợ cứu cho những người lỡ đường, đói rách, tàn tật.”

         Giữ được điểu răn cấm thứ sáu có công năng như sau:

         1- Đạt được “chánh kiến”.

         2- Đạt được đức “bố thí”.

         “ĐIỀU THỨ BẢY: Đứng trước mọi việc chi sự đời hay đạo đức, Ta phải suy xét cho minh lý rồi sẽ phán đoán việc ấy.”

         Giữ được điều răn cấm thứ bảy là đạt được “chánh trí” phá được vô minh, đạt được “trí-huệ”.

         “ĐIỀU THỨ TÁM: Tóm tắt ta phải thương yêu lẫn nhau như con một cha, dìu dắt lẫn nhau vào con đường đạo đức, nếu ai giữ được trọn lành trọn sáng về nơi cõi Tây-Phương an dưỡng mà học Đạo cho hoàn toàn đặng trở lại cứu vớt chúng sanh.

         Tất cả thiện nam, tín nữ trong tôn giáo nhà PHẬT lúc rảnh việc thường nên coi kệ giảng mà giữ gìn phong-hóa nước nhà, giữ những tục lệ chơn chánh, bỏ tất cả những sự dị-đoan mê tín thái quá mà làm cho đạo đức suy đồi.”

         Giữ điều răn cấm thứ tám sẽ đạt được sự “Hòa Hảo” và được “trọn lành”, “trọn sáng”, “tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, viên thành PHẬT quả”.

                          “Đạo pháp thường hay dung với hòa.

                           Xét người cho tột xét thân ta,

                           Nếu người rõ phận vui lòng thứ,

                           Ta thứ được người, người thứ ta.”

         Nói tóm lại: Hành được ĐIỀU RĂN CẤM THỨ NHỨT là hoàn thành hạnh Tu Nhân, bảy điều còn lại hoàn bị hạnh Học Phật. Còn là một ngàn món phước đức đủ điều kiện dự hội LONG-HOA

         Phụ chú:

         Bài toán cộng tám con số tám cộng thành con số 1.000

                 8        8      8

                           8      8

                +                8

                                  8

         -------------------------

              1 0        0      0

         Nếu đem so với Tam tụ tịnh giới: từ điều thứ nhứt đến điều thứ bảy đạt được “Nhiếp luật nghi giới và Nhiếp nghiệp thiện giới.”

         Điều răn cấm thứ tám là “Nhiêu ích hữu tình giới”.

                              “Gìn giới cấm sửa tâm ô-tạp,

                               Niệm Phật thì phải dẹp lòng tà.”

                                                   (Giác mê tâm kệ)

         Cũng là phương tiện cho hạnh Phước Huệ song tu, và nó cũng là NỀN TẢNG pháp môn Thiền-Tịnh song tu.

         Tám điều răn cấm xem qua thì chúng ta thấy đơn giản, khi đi sâu vào ý nghĩa, nó rất thâm sâu, bao gồm trong muôn pháp, chúng tôi chỉ mới nhận xét theo sự hiểu biết phiến diện của mình mà thôi, không thể nào dùng vỏ hến để đo lường nước biển được (dỉ lệ trắc hải).

         Chúng tôi chỉ trình bày khái lược, qua sự hiểu của mình, mong quí vị tìm hiểu thêm.

                          “Vô thượng thậm thâm dĩ ý truyền,

                           Danh  ngôn chép để vạch đàng tiên.

                           Cư gia tịnh-độ tâm viên mãn,

                           Sĩ xuất văn từ dốc dạy khuyên.”

                                                   (Khuyến thiện)

C- XUẤT THẾ GIAN PHƯỚC

         Xuất thế gian phước:  là phước đức thoát sanh tử.

         Muốn được phước giải thoát, thì phải tu theo các pháp môn ly xuất sanh tử, trong đó gồm: Bát Chánh Đạo, Tứ Diệu Đề, Lục Độ Vạn Hanh, Định Huệ, Pháp Môn TỊnh-Độ, Diệt Lục Căn, Không Nhiễm Lục Trần, Phá Ngũ Uẩn,v.v...

                           “Thiền lâm PHẬT THÍCH thuở xưa kia,

                             Non Tuyết rèn ra Bát-Chánh kìa.”

                                                   (Đến làng Nhơn Nghĩa)

                          “Tứ diệu đề ai có mến ưa,

                           Thì Lão cũng kể sơ thêm nữa.”

                                                   (Giác Mê tâm kệ)

LỜI CỦA ĐỨC THẦY DẠY TU PHÁP LỤC-ĐỘ

        Bố thí, trì giới, nhẫn nhục để độ tham, sân, si:

                          “Chánh tin tấn dầu thành hay bại,

                           Cứ một đường tín ngưỡng của mình.”

         Thiền định đặt làm thể, trí huệ đặt làm mạng:

                          “MÔN TINH-ĐỘ là phương cứu cánh,

                           Rán phụng hành kẻo phụ PHẬT xưa.”         

                                                      (Khuyến thiện)

         Đức Ngũ Tổ sai Đức Lục Tổ HUỆ NĂNG làm công việc, Ngài trả lời: Bạch HÒA THƯỢNG tự tâm của đệ tử thường sanh trí-huệ chẳng lìa tự tánh, tức là phước điền, chẳng hay HÒA THƯỢNG còn dạy làm công việc gì nữa...

                          “Cúng thí nhiều phước đức trùng thâu,

                           Nhưng 3 ác vẫn đầu sanh mãi.”

                                                   (Pháp Bảo đàn kinh)

         ĐỨC PHẬT nói rằng: Ta rất buồn khi thấy môn đồ của Ta hằng ngày siêng tạo việc phước điền mà tham, sân, si không dứt.

         Ta rất vui khi nhìn thấy môn đồ của Ta không lo việc phước điền mà dứt trừ được tham, sân, si.

                          “Tội tiêu phước hưởng trường tồn,

                            Không còn mắc nẻo dại khôn luân hồi.”

                                                   (Khuyến thiện)

         Kết luận: người tu hành phải có nhiều phước đức mới công viên, quả mãn.

         Thế phước làm nền tảng cho giới phước, giới phước là làm căn bản cho xuất thế gian phước.

         Tóm lại, hành giả phải dứt trừ được tham, sân, si mới mong Giải thoát, đây là nói về pháp tu tự lực, còn một pháp môn dễ tu dễ hành và mau giải thoát, đó là pháp môn Tịnh-độ nhờ sự trợ lực của ĐỨC PHẬT A-DI-ĐÀ  là pháp môn tu tha lực, nhờ sức bên ngoài.

                          “Lập thân giúp thế nên công quả,

                           Muôn kiếp danh hiền sách vẫn biên.”

                                                   (Luận việc tu hành)

                          “Phổ tế chúng sanh qua bể khổ,

                           DI-ĐÀ miệng niệm lánh trần gian.” 

                                                   (Tỉnh bạn trần gian)

         Lời cuối kính chúc quí liệt vị thân tâm thường an lạc, đạo quả sớm viên thành.

                                   Nam-Mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật !

                                   Nam-Mô A-Di-Đà Phật !

                              HỒNG LIÊN CƯ SĨ
 
Comments