2012/05/01 - Ý Nghĩa Ngày Khai Sáng Đạo PGHH

Ý Nghĩa Ngày Khai Sáng Đạo PHẬT GIÁO HÒA HẢO

Ngày 18 tháng 05 năm Kỷ Mão (nhằm ngày 04/07/1939)

         Chúng tôi mạo muội có vài lời trình bày về Ý nghĩa ngày Khai sáng đạo PGHH của ĐỨC THẦY qua sự hiểu biết thô thiển của mình, mong quí đồng đạo và quí độc giả niệm tình hoan hỷ.

         Theo chúng tôi nhận xét, các Đấng cứu thế khi ra đời, đều có nguyên do chớ không phải sự ngẫu nhiên.

         “Phật vị nhứt đại sự Nhân-Duyên xuất hiện ư thế.” (Phật vì một Nhân-Duyên lớn mới ra đời).

         Theo tôi nghiên cứu trong bài Sứ mạng của Đức Thầy, có 5 lý do mà Đức Thầy khai sáng Đạo, đó là:

         1- Thời cơ đã đến,    

         2- Hội đủ nhân Duyên,

         3- Chấn Hưng đạo Phật,

         4- Vãn hồi đạo Nhân,

         5- Dựng bảng Phong Thần, lập đời Thượng Nguơn, khai Hội Long-Hoa và Tam Hoàng Long-Vân, Long-Đình Hội.

1.- VÌ THỜI CƠ ĐÃ ĐẾN:

                          “Thừa vưng Sắc-Lịnh của Trời,

                 Cùng ông Phật-Tổ giáo đời khuyên dân.”

                                                   (Viếng làng Mỹ hội Đông)

         “Vì thời cơ đã đến, lý Thiên Đình hoạch định, cuộc nguy cơ thảm họa sắp tràn lan, Ta đây tuy không thể đem phép huệ linh mà cứu an tai họa chiến tranh tàn khốc do loài người tàn bạo gây nên.”

         Nhận xét đoạn văn trên, chúng ta thấy vì lòng từ bi cứu đời thoát khỏi tai nàn thảm khốc xắp xảy đến, Đức Thầy nắm lấy thời cơ, ra đời cứu độ chúng sanh cho kịp Thời kỳ không thể chậm trễ, nên ngày 18/05 năm Kỷ Mão, Ngài hóa hiện ra đời để cứu độ chúng sanh:

                 “Lòng thương lê-thứ đáo Ta-Bà,

                  Thừa chuyển pháp luân dụng khuyến ca.

                  Cảnh-tỉnh người mê về cõi ngộ,

                  Dạy răn kẻ tục vượt nê-hà.”  

                                                             (Chuyển pháp luân)

2.- DO NHÂN DUYÊN ĐÃ HỘI ĐỦ:

                 “Duyên lành rõ được Khùng Điên,

                  Chẳng qua kiếp trước thiện duyên hữu phần.”

                                                   (Viếng làng Mỹ hội Đông)

         “Vì thể hiện lòng Từ-Bi, Bác-ái, cùng thù đáp những linh-hồn đã trợ duyên trong nhiều kiếp giúp ta nương cậy tu hành…” (Sứ mạng của ĐỨC THẦY)

         Theo sự hiểu biết của chúng tôi, là do nhân-duyên của chúng sanh và Đức Thầy gieo trong nhiều kiếp đã chín mùi và hội đủ, nên Ngài ra đời để dìu dắt:

                 “Rày mừng gặp đặng lúc ban ân,

                  Duyên trước ngày nay mới có phần.

                  Hãy rán dặn lòng lo trung hiếu,

                  Đến chừng gặp Hội có Tiên, Thần.”

                                                   (Cho Hương-bộ Thạnh)

3- CHẤN HƯNG ĐẠO PHẬT:

                          “Chấn hưng Phật-Giáo học-đường,

                 Dưới trên hòa thuận chọn đường qui nguyên.”

                                                   (Thu đã cuối)

Chấn-hưng: Chấn là đỡ dậy. Hưng là làm cho thịnh vượng. CHẤN-HƯNG nghĩa là đỡ dậy làm cho hưng thịnh, cho mạnh mẽ.

         Đạo Phật đã trải qua ngót 25 thế kỷ và trải qua 5 thời kỳ:

         1/- Thời kỳ giải thoát kiên cố (tu là chắc chắn giải thoát) là thời kỳ Phật còn trụ thế:

                 “Thiền lâm Phật-Thích thuở xưa kia,

                  Non tuyết rèn ra Bát-Chánh kìa.

                  Phổ hóa dân lành trong khắp chúng,

                  Hoàn-cầu bốn biển khắp danh bia.”

                                           (Đến làng Nhơn Nghĩa)

         2/- Thiền định kiên cố (hễ tham-thiền là đắc định). Đây là thời kỳ chánh pháp, Phật truyền thừa cho các vị Tổ. Vị Tổ đầu tiên là Đức Ma-Ha Ca-Diếp rồi Tổ Tổ tương truyền trải qua đến đời tổ thứ 33 là Huệ-Năng Lục Tổ tại Trung Hoa. Nói tóm lại, Ấn-Độ gồm có 28 vị Tổ, Trung Hoa có 5 vị Tổ, tổng cộng là 33 vị Tổ.

                          “Thiền gia chí cả dốc hành thân,

                           Diệu diệu truyền thi cảm kích thần.

                           Những tưởng thói đời ôi chát lạt !

                           Đạo mầu siêu-việt của thiền lâm.”

                                                   (Đến làng Nhơn Nghĩa)

         3/- Thời kỳ văn tự kiên cố (là thời kỳ chấp cứng vào văn tự để lý luận mà thôi) ít có người khảo xét tìm hiểu nghĩa rồi để thực hành.

         Nên Đức Thầy khuyến tấn:

                          “Nghe cạn lời chớ có mờ hồ,

                           Tìm hiểu nghĩa làm theo đắc Đạo.”

                                                   (Giác Mê Tâm Kệ)

         4/- Thời kỳ tháp tự kiên cố (thời kỳ này chỉ biết kiến trúc xây dựng chùa tháp, đúc chuông đồng, Phật bự cho chắc chắn mà thôi)

                          “Nên ít người khảo xét kệ kinh,

                           Được dắt chúng hữu tình thoát khổ.” 

                                                   (Khuyến Thiện)

         5/- Thời kỳ mạt pháp đấu tranh kiên cố (trong tăng đồ chỉ biết chia phe chia phái, lợi dưỡng cá nhân không sống theo lục hòa nữa).

         Phụ chú: Lục hòa gồm:

                  1- Thân hòa đồng trụ: (Sống chung hòa thành một tăng đoàn mà không ai bị điều phiền hà)

                          “Chớ chia rẽ phải đồng tâm lực,

                           Khua giọng vàng đánh thức bốn phương.

                           Chấn hưng Phật giáo học đường,

                           Dưới trên hòa thuận chọn đường qui nguyên.”

                                                   (Thu đã cuối)

                 2- Khẩu hòa vô tranh: (Trao đổi đạo đức luôn được ôn hòa không có tranh luận hơn thua):

                          “Và nhẫn nhịn đừng ham tranh luận,

                           Khỏi mất lòng tất cả mọi người.”

                                                   (Q.5, Khuyến Thiện)

                 3- Ý hòa đồng duyệt: (Mọi người hay xét mình, hoan hỷ với người, trên dưới đều hòa một ý).

                          “Trên cùng dưới đều hòa ý hỉ.” (Q.4, GM Tâm kệ)

                 4.- Giới hòa đồng tu: (Mọi người đều trì hành Giới luật của Phật chế ra).

                          “Chữ Nhẫn Giái trì tâm trong trẻo,

                           Khuyên dương trần giữ phận làm đầu.”

                                                   (Q.4, GM Tâm kệ)

                 5.- Kiến hòa đồng giải: (Đem sự hiểu biết cùng trao đổi không dấu diếm.)

                 “Tóm tắt, ta phải thương yêu lẫn nhau như con một cha, dìu dắt lẫn nhau vào con đường đạo đức”. Hay là:

                          “Bàn với luận đặng coi chơn lý.”

                 6.- Lợi hòa đồng quân: (Có lợi phải chia đồng, không lợi dưỡng một mình). 

                          “Muốn Phật giáo từ đây bền vững,

                           Đừng riêng lo lợi dưỡng một mình.

                           Nếu xuất gia thì phải hy sinh,

                           Cả vật chất tinh thần lo Đạo.”  

                                                   (Q.5, Khuyến Thiện)

         Đây là thời kỳ Pháp môn bế mạt đạo đức suy đồi, vì lẽ ấy Đức Thầy với sứ mạng ra đời chấn-hưng Phật-Giáo, và Ngài đã kêu gọi:

                          “Cả tiếng kêu cùng khắp chư tăng,

                           Với tín nữ thiện nam Phật-Giáo.

                           Nên cố gắng trau thân gìn Đạo,

                           Hiệp cùng nhau truyền bá kinh lành.”

                                                   (Q.5, Khuyến Thiện)

                          “Phận tớ xác phàm tớ sẽ dưng,

                           Cúng dường cho Phật, Phật đành ưng.

                           Dù cho phải chịu ngàn cay đắng,

                           Cũng nguyện Đạo mầu sẽ chấn-hưng.” 

                                                   (Hiến thân Sãi khó)

         Nói tóm lại, chấn-hưng đạo Phật là làm cho nền Đạo phát triển mạnh mẽ trở lại, và để qui nguyên chơn truyền chánh pháp Vô vi của Đức Phật, phá bỏ mê tín dị đoan, bớt những nghi lễ phiền toái rườm rà, như sắc tướng âm thinh, đã làm cho Đạo pháp suy đồi:

                          “Kỷ Mão hạ san mượn xác trần,

                           Cảm tình đồng loại Lão khuyên dân.

                           Thậm thâm đây đó niềm liên ái,

                           Hợp tác cùng nhau nối bút thần.”

                                                   (Cho ông Hương chủ Bó)

4.- VÃN HỒI ĐẠO NHÂN:

                          “Khuyên trai, gái học theo Khổng Mạnh,

                           Sách Thánh hiền dạy Đạo làm người.”

                                                   (Kệ dân của người Khùng)

         Vãn Hồi Đạo Nhân: (nghĩa là kéo mọi người trở lại nề nếp Nhân đạo), vì nền nhân luân đạo lý bị suy đồi, kỷ cương đảo lộn do làn sóng của văn minh cặn bã, nên  Đức Thầy kêu gọi mọi người xây dựng lại.

         Đức Khổng Tử (sinh năm 551 mất năm 479 thọ 72 tuổi, trước Công nguyên, đời Đông châu Liệt quốc tại Trung-Hoa), cũng vào thời của Đức Phật khai Đạo tại Ấn Độ, Ngài chủ trương đạo xử thế, trải qua 25 thế kỷ dạy đạo làm người, mọi người phải ăn ở theo lễ nghi kỷ cương luân lý.

         Nam (người con trai) phải giữ Tam cang, Ngũ thường.

         Nữ (người con gái) phải giữ Tam tùng, Tứ đức.

         Tam Cang là 3 giềng, Ngũ Thường là 5 mối.

                 Tam Cang: 1- Quân thần cang (Đạo vua tôi)

                                  2- Phụ tử cang (Đạo cha con)

                                  3- Phu thê cang (Đạo chồng vợ)

                 Ngũ Thường:

                           1- Nhân trắc ẩn chi tâm nhân chi đoan giả (Lòng thương yêu là giềng mối của chữ Nhân).

                           2- Kiến Nghĩa bất vi vô dõng giả (Thấy việc nghĩa không làm chưa gọi là kẻ mạnh).

                           3- Lễ giả thiên-hạ chi tự dã (Lễ là cái trật tự khuôn phép của con người).

                           4- Trí giả tự xử (Trí là tự trị lấy mình không để ai trị).

                           5- Tín - Nhơn vô tín bất lập (Người không có uy tín thì không có chỗ đứng).

                 Tam Tòng (Tùng):

                          “Tam tùng vẹn giữ lập thân buổi nầy.

                           Tình duyên không kíp thì chầy,

                           Chớ đừng cải lịnh gió mây ngoại tình.

                           Đi thưa về cũng phải trình,

                           Công, dung, ngôn, hạnh thân mình phải trau.”

                                                   (Q.3, Sấm Giảng)

                           1- Tại gia Tùng phụ (Ở tại nhà phải theo lịnh cha mẹ).

                           2- Xuất giá Tùng phu (Về nhà chồng phải theo phong tục bên chồng nghĩa là ăn ở theo bên chồng).                                                                             

                           3- Phu tử Tùng tử (Chồng chết phải vì con không được tự tiện tái giá).

         Tứ Đức là bốn đức tánh của người phụ nữ:

                     1.- Công là phải sửa làm sao,

                 Làm ăn các việc tầm phào chẳng nên.

                          Mình là gái mới lớn lên,

                 Đừng cho công việc hớ hênh mới là.

                     2.- Chữ dung là phận đàn bà,

                 Vóc hình tươi tắn đứng đi dịu dàng.

                          Dầu cho mắc chữ nghèo nàn,

                 Cũng là phải sửa phải sang mới mầu.

                     3.- Ngôn là lời nói mặc dầu,

                 Cũng cho nghiêm chỉnh mới hầu khôn ngoan.

                          Đừng dùng lời tiếng phang ngang,

                 Thì cha với mẹ mới an tấm lòng.

                     4.- Hạnh là đức tánh phải không ?

                 Ở cùng chòm xóm đừng cho mất lòng.

                          Bốn điều nếu đã làm xong,

                 Cũng gìn chữ hiếu phục tòng song thân.”

                                                   (Sấm Giảng, Q.3)

                  1- Công là công việc làm ăn, như bếp núc, thêu thùa, may vá phải vén khéo.

                  2- Dung là cái vẻ đẹp của người phụ nữ, dáng điệu phải đầm thắm, dịu dàng.

                  3- Ngôn là lời nói êm dịu ngọt ngào, khôn ngoan.

                  4- Hạnh là tánh nết ăn ở, cách đối xử với mọi người xung quanh đúng đắn, đàng hoàng.

         Đức Thầy dạy: “Điều thứ nhứt ta chẳng nên uống rượu, cờ bạc, á-phiện, chơi bời theo đàng điếm, phải giữ cho tròn luân lý, tam cang, ngũ thường.”

         Luân Lý là đạo nhân luân, hay là ngũ luân đạo:

                 “Đạo tôi chúa chặt gìn câu chung thỉ,

                  Đạo thầy trò khắc cốt với ghi xương.

                  Đạo cha con chặt-chẽ chữ miên trường,

                  Đạo chồng vợ thuận-hòa cho đến thác.

                  Biết lễ nghĩa kính yêu cùng cô bác,

                  Nội tông cùng ngoại tổ với cậu dì.

                  Thêm kính nhường anh chị kẻ cố tri,

                  Mắt chẳng thấy lũ gian phi xảo-trá.

                  Đạo bè bạn bất phân nhơn với ngã,

                  Chữ nghĩa tình sắt đá mãi bền gan.”

                                                   (Không buồn ngũ)

         Nói tóm lại, vãn hồi đạo nhân là Ngài kêu gọi mọi người trở lại giữ gìn kỷ cương luân thường đạo lý và phong hóa nước nhà, lấy Khổng giáo làm nền tảng.

5.- DỰNG BẢNG PHONG THẦN VÀ LẬP ĐỜI THƯỢNG NGUƠN, KHAI MỞ HỘI LONG-ĐÌNH, LONG-VÂN, LONG-HOA.

         1- Sứ mạng Đức Thầy là dựng bảng Phong Thần:

                 “Thì rõ việc Phong Thần trở lại,

                  Thuyền Đông Pha lèo lái cánh trương.”

                                                   (Xuân Hạ tác cuồng thơ)

         2- Sứ mạng của Đức Thầy là đưa chúng sanh đến đời Thượng Nguơn:

                          “Làm cho rõ mặt râu mày,

                 Thượng nguơn hồi phục là ngày an cư.”

                                                   (Thiên Lý Ca)

         3- Vưng lịnh Phật Vương chuyển lập hội Long-Hoa:

                          “Lập rồi cái hội Long-Hoa,

                 Đặng coi hiền đức được là bao nhiêu.”

                                                   (Sấm Giảng, Q.3)

                          “Muôn thu thiên định nhứt kỳ,

                 Hạ-Nguơn Sắc lịnh khai kỳ Long-Hoa

                                                   (Thiên Lý Ca)

         4- Vưng lịnh Minh-Vương lập hội LONG-VÂN:

                          “Ai mà sửa đặng vuông tròn,

                 Long-Vân đến hội lầu son dựa kề.”

                                                   (Sám Giảng, Q.3)

         5- Vưng lịnh Tam Hoàng lập hội LONG-ĐÌNH:

                          “Muốn xem được hội Long-Đình,

                 Thì dân phải ráng sửa mình cho trơn.

                           Ở ăn cho vẹn mười ơn,

                 Cảnh tình hiền đức gặp cơn khải hoàn.”

                                                   (Để chơn đất Bắc)

                          “Mấy lời dạy bảo đinh ninh,

                 Gắn-ghi chạm dạ Long-Đình được xem.”

                                                   (Cho ông Tham tá Ngà)

         Nói tóm lại, Đức Thầy nhận lãnh 3 Sắc-lịnh lớn:

         1.- “Ta thừa vưng Sắc-lịnh Thế Tôn.”

                                                   (Diệu pháp quang minh)

         2.- “Ngọc Hoàng ban chiếu lão Khùng giáo dân.”

                                                   (Dặn dò bổn đạo)

         3- “Muốn tu tỉnh nay đà gặp cuộc,

               Đức DI-ĐÀ truyền mở đạo lành.

               Bởi vì Ngài thương xót chúng sanh,

               Ra Sắc-lịnh bảo ta truyền dạy.”

                                                   (Q.2, Kệ dân của người Khùng)

         Ngoài ra, Ngài còn có nhận lãnh nhiều lịnh truyền:

         4-  “Điên này vưng lịnh Minh-Vương,

               Với lịnh Phật đường đi xuống giảng dân.”

                                           (Q.1, Sấm Giảng khuyên người đời tu niệm)

         5- “Quan-Âm Nam-Hải Phổ-Đà,

          Cùng Thầy ra lịnh nên ta giáo truyền.”

                                                   (Sấm Giảng, Q.3)

         Chúng tôi xin trình bày tiếp sau đây qua sự tìm tòi học hỏi, hiểu biết hạn chế của mình, mong rằng quý Đồng đạo niệm tình hoan hỷ mà tham khảo bổ chính, xin thành thật biết ơn.

                 KHÙNG toán biết âm dương kết liễu,

                 KHÙNG huyền cơ KHÙNG đạo THÍCH-CA.

         Căn cứ theo bảng liệt kê âm-dương: số lẽ là số dương, số chẳn là số âm, thí dụ như:

                 1   2   3   4   5   6   7   8   9

                 D . A . D .A . D . A .D . A . D

         Ngày 18 tháng 5 theo sự hiểu biết của chúng tôi thì 1 + 8 = 9, lấy tháng 5 đem ghép lại là 95. Căn cứ vào dịch lý là hào cửu-ngũ trong kinh Dịch, nếu được trúng hào này là có chơn mạng Đế Vương, sẽ làm Vua; nếu là PHẬT thì gọi là Pháp Vương.

         Vả lại, số 9 là số tột cùng trong bảng liệt kê âm dương, nó là số dương, số 5 là con số chính giữa, gọi là Trung ương cũng là số dương, ngày mùng 5 tháng 5 gọi là tiết Đoan dương, hay Thuần dương, cũng gọi là tiết Đoan ngọ.

         9 + 5 = 14 + 9 = 23 thành ra các ngày mùng 5, 14, 23 là ngày Thiên tử giá lâm, ngày xưa dân không được ra ngoài, đó là thời Quân chủ, là những ngày cấm kỵ

         Ngôi của Vua gọi là ngôi Cửu Ngũ (tức là con số 95).

         Năm KỶ MÃO, căn cứ thập thiên can, mầu, kỷ thuộc Trung ương. Mầu là dương, Kỷ là âm.

         MÃO theo nguồn gốc người Trung Hoa là thỏ, Thỏ là Ngọc thố biểu tượng cho bóng trăng, Đức Thầy có câu:

                          “Bóng trăng cậy đỡ ban đêm,

                           Trầu ăn nhả bã cứ têm mời hoài.”

                                                   (Từ giã bổn đạo khắp nơi)

         Hoặc:

                          “Rạng vừng mây bóng thỏ lạc nhàn, 

                           Để chuyến khác cạn câu hoài vọng.”

                                                   (Cho Ông Tham Tá Ngà)

         Hay là :  

                          “Đêm dài dặn cạn dầu tim lụn,

                           Chẳng thấy ai tìm kiếm bóng trăng.

                           Để làm cho mích bụng chị Hằng,

                           Nơi cung nguyệt chờ trông mõn dạ.”

                                                   (Diệu Pháp Quang Minh)

         Bóng trăng theo khoa học, tỏa sáng là do phản xạ của mặt trời, Đức Phật ví như Mặt Trời, Đức Thầy ví như bóng trăng. Bóng trăng thường xuất hiện vào ban đêm, nên gọi là âm, dụ cho thế gian đầy tăm tối vô minh, mà nhờ có ánh sáng của bóng trăng soi sáng.

        Cũng như thế, chúng ta đang sống trong một cuộc đời đen tối đầy tội lỗi, may nhờ có Đức Thầy soi sáng và dìu dắt:

                          “Dìu nhơn sanh khỏi chốn mê lầm,

                           Bờ giác ngạn kiên tâm lần bước tới.”

                                                   (Tặng Bác Sĩ Cao Triều Lợi)

         Ngày 18/05 theo nghiên cứu về Phật học, con số 10 là Thập thiện, con số 8 là Bát chánh đạo, theo Đức Lục Tổ Huệ Năng, hành Thập thiện là 10 điều lành đi được 10 ngàn dặm, hành Bát chánh đạo là 8 điều chánh đi được 8000 dặm, cộng chung là 18 ngàn dặm là đến Tây-Phương.

         Con số 5 cũng là một con số đặc biệt, theo chúng tôi hiểu, số nhỏ là Ngũ giới, số lớn là Ngũ thừa Phật Giáo, gồm có:

                  NHÂN THỪA: Gồm Tam qui, Ngũ giới.

                  THIÊN THỪA: Gồm Thập thiện.

                  THANH VĂN THỪA: Tứ diệu đề, Bát chánh đạo.

                  DUYÊN GIÁC THỪA: Đoạn Thập Nhị Nhân Duyên.

                  BỒ-TÁT THỪA: Gồm Hành trì Lục độ. 

         Kết luận, qua đề tài Ý nghĩa ngày khai sáng đạo PGHH của ĐỨC THẦY, chúng tôi nhận thấy rằng với sứ mạng thiêng liêng cao cả của ĐỨC THẦY là dìu nhơn sanh ra khỏi luân hồi sanh tử để được an vui nơi NIẾT-BÀN TỊCH TỊNH, là lòng TỪ-BI phổ chúng, giác tha, theo Tứ hoằng thệ của CHƯ PHẬT là:

                 1.- Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, 

                 2.- Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn,

                 3.- Pháp môn vô lượng thệ nguyện học,

                 4.- Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.

         Ngài đã dùng mọi phương tiện phù hợp với căn cơ trình độ của chúng sanh, mà: “Đường đạo đức bước đi tư nấc” đến Thượng Nguơn hay Long-Hoa hội, Long-Đình, Long-Vân hội, Phong-Thần hội…cũng đều là phương tiện, đưa chúng sanh lần lần đến bờ giải thoát sanh tử luân hồi mà thôi.

         Chúng tôi chỉ xin trình bày khái lược, mong quí độc giả và chư quí đồng đạo tìm tòi nghiên cứu thêm .

         Lời sau cuối, chúng tôi xin kính chúc quí vị sức khỏe được an khang, trí tuệ được sáng suốt, bồ-đề tâm kiên cố, đồng đăng PHẬT cảnh, đồng ngộ PHẬT tâm, đồng thành PHẬT ĐẠO./.

Nam-Mô A-Di-Đà Phật

Nam-Mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật

HỒNG-LIÊN CƯ-SĨ

Comments