2012/03/21 - Đôi nét nhận xét về Ông THANH-SĨ

ĐÔI NÉT NHẬN XÉT VỀ ÔNG THANH-SĨ

Chúng tôi có vài lời mạo muội nhận định về ông THANH-SĨ.

Theo chúng tôi hiểu, ông đang thực hành cái sứ mạng thiêng liêng như tất cả tín đồ PGHH. Vâng theo lời Thầy Tổ chỉ dạy, là mỗi người phải có cái bổn phận riêng, kẻ lo về mặt tinh thần người lo về mặt vật chất tùy sức của mỗi người lớn, nhỏ, trí, ngu…làm thế nào có lợi ích cho quần sanh là đúng.

Hôm nay chúng tôi có 7 phần yếu lược về ông THANH-SĨ:

1. Sơ lược qua thân thế của ông,

2. Nói về học lực,

3. Trình bày qua hoản cảnh,

4. Kể lại quá trình ông đi châu thuyết,

5. Nói lên sứ mạng thiêng liêng bảo tồn đạo pháp của ông,

6. Nhận định lý do ông buột phải xuất ngoại để hoàn thành sứ mạng của tín đồ PGHH,

7. Nhận xét giảng luận của ông so với Kinh luật của PHẬT và giáo lý của ĐỨC THẦY nhiều hay là ít.

A- THÂN THẾ

Ông Thanh-Sĩ sinh năm 1928 (Mậu Thìn), tên tộc là Trần Duy Nhứt. Sanh trưởng tại ấp Phú Thạnh, làng Nha Mân, Sa Đéc, hiện nay là ấp Phú Hòa, xã Phú Long, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp, Nam phần Việt-Nam.

         Thân phụ là Hội đồng Hương, cũng gọi là ông Chế Văn Hương. Thân mẫu là bà Trần Thị Mười, là thứ thiếp, nên có sự ganh tỵ của bà Cả.

Bà Mười dọn nhà về ở trong kinh Phú Thạnh ngang rạch Ông Kế, cách chợ Phú Long khoảng 1km, ngoài chợ đi vào phía bờ kinh bên phải.

         Ông có người em tên Trần Duy Nhì bị bịnh mất năm 1947, trước khi ông cùng mẹ dời lên làng Phú An, Thánh địa Hòa Hảo.

B- HỌC LỰC

Vào trường tư chưa đầy 2 tháng, ông đã đọc được vần ngược, vần xuôi. Ông Năm là người bà con với bà Mười thấy ông học rất thông minh nên giới thiệu với thầy giáo Hoành cho ông nhập học lớp tư trường làng. Ông tiếp tục học đến hết lớp ba trường làng, nhưng vì bận việc nhà ông phải rời trường học, mặc dù trong thời gian học năm nào ông cũng đứng nhứt lớp.

         Đến năm 1942 ông xin với mẹ cùng người bạn là ông Nguyễn Văn Tư, đến học chữ Hán với thầy Câu Tường cùng ngụ một làng với ông. Ông thầy bắt đầu dạy Tam Tự kinh, rồi đến MINH TÂM BỬU GIÁM, chưa đầy 2 tháng ông đã thông suốt, thầy Câu Tường nói: trò Nhứt thông minh quá, thầy không còn sách để dạy. Sau đó vì bận công việc nhà, ông chia tay từ giã mái trường cùng thầy Câu Tường và bạn học, về tiếp tay mẹ lo việc giặt giũ, bếp nút, coi em… để mẹ đi bán rau cải kiếm tiền độ nhựt.

C- HOÀN CẢNH

         Theo chúng tôi nhận xét, từ cổ chí kim các bậc Thánh hiền ra đời phần nhiều là sống trong hoàn cảnh khốn khó. ĐỨC MẠNH TỬ nói: “Cố thiên tương giáng đại nhậm ư thị nhơn giả tiên tất lao kỳ thân, nhọc kỳ cân cốt, ngạ kỳ thể phu, không phạp kỳ gia, hành sở kỳ phất do, định tâm nhẫn tánh, tăng sở kỳ bất năng.” (nghĩa là: Trời muốn giao trách nhiệm cho người nào, làm cho người đó thân xác phải chịu khổ, gân cốt phải mỏi mệt, thân thể chịu đói khát, nhà phải nghèo túng, việc làm phải lúng túng, tâm có định, lòng có chịu đựng được không, nếu được sẽ tăng thêm kinh nghiệm những gì mình chưa hiểu, khi đó Trời mới giao cho mình cái trách nhiệm lớn). Trong bài “Gởi về cho bổn đạo”, Đức Thầy có viết:

                          “Dầu cho xoay chuyển đất trời,

                 Lòng ta chỉ dốc độ đời mà thôi.

                          Cội lành mong đặng đâm chồi,

                 Chặt gìn Phật Đạo đền bồi ơn xưa.

                          Đừng thù kẻ nghịch thêm thừa,

                 Mở lòng hà hải lọc lừa đàng ngay.

                          Thế gian hiếm kẻ Thánh tài,

                 Ra đời phải chịu ít ngày gian nan.

                          Cổ kim nghiệm biết đừng than

                 Để cho Trời Phật lo toan việc nầy.”

                                  (Nhà thương Chợ quán, ngày 25/09 Canh Thìn)

         Như thầy Nhan sống chỗ nhỏ hẹp, bầu nước đai cơm vẫn an vui. Mạnh Mẫu phải dời chỗ ở 3 lần, Đức Mạnh Tử mới thành nhân. Nhạc Phi hiệu là Bàn Cử 3 chìm 7 nổi mới nên danh, ông có tiếng hiếu thảo và trung lương. Hiếu trung như Lục Vân Tiên, tiết trinh như nàng Nguyệt Nga trải biết bao gian nan lận đận, sau mới hưởng được hạnh phúc. Hiền thần Tiết Nhơn Quí phải chịu biết bao hàm oan, tai nạn mới công thành danh toại. Khương thượng Tử Nha phải ngồi câu đợi thời vận ở bàn khê sông Vị, sau mới được vinh hiển. Châu mãi Thần lo sôi kinh nấu sử nhưng vì nhà nghèo bị vợ phụ bạc, sau thi đỗ làm quan to.

                 “Cảnh gian nan như Lưu Hoàng thúc,

                  Qua ở nhờ Viên Thiệu dung thân.

                  Quan Công Hầu gìn chặt nghĩa ân,

                  Vượt năm ải về thăm huynh trưởng.”

                 (Diệu pháp quang minh - Đức Thầy)

         (Phụ chú: Năm ải là:

1. ải Đông linh, chém đầu Khổng Tú.

2. ải Lạc dương, chém đầu Trương Thân và Hản Phúc.

3. ải Nghi thủy, chém đầu Biện Hỉ.

4. ải Huỳnh dương, chém đầu Thái thú Vương Thuật.

5. ải Hoạt châu, chém đầu Tần Kỳ.)

         Phật giáo có đức LỤC TỔ HUỆ NĂNG muốn cầu Đạo phải giao mẹ cho ông trụ trì thay thế phụng dưỡng, khi được ĐỨC NGŨ TỔ truyền đạo Ngài phải lánh nạn 16 năm ở chung thợ săn, đợi có đủ cơ duyên mới đi độ chúng. TỔ SƯ ĐẠT MA từ Ấn Độ đem dòng Thiền sang qua Trung Quốc  truyền bá vào thời của vua Lương Võ Đế nhưng chưa đủ cơ duyên phải vào động Thiếu Thất 9 năm, ngồi xoay mặt vào vách, gọi là “Cửu niên diện bích”, sau Ngài truyền tâm ấn cho ngài THÂN QUANG, tức là NHỊ TỔ HUỆ KHẢ, tổ Huệ Khả sau khi truyền tâm ấn cho tổ Tăng Xáng, Ngài đến nước Ngụy trả quả chém đầu, ôi kể sao cho xiết những sự đau khổ tai nạn mà Phật Thánh phải gánh  chịu:

                          “Ta chịu khổ, khổ cho bá tánh.” (Đức Thầy)

         Hoàn cảnh của ông Thanh-Sĩ cũng không ngoại lệ. Sanh trong một gia đình “nhứt phụ nhị mẫu”, không được khai họ cha buộc phải khai họ mẹ, nhà nghèo mẹ phải tảo tần kiếm tiền độ nhựt, ông ở nhà chăm sóc em cơm nước giặt giủ, đi học được các thầy miễn phí, ở một làng quê hẻo lánh, nhưng ông có túc duyên nên gặp được giáo lý của ĐỨC THẦY. Quyển Giác Mê Tâm Kệ do một đồng đạo thỉnh từ thánh địa Hòa Hảo về tặng cho ông, trong đó phía dưới có hướng dẫn sự thờ phượng, ông xem qua vài bận đã hiểu tột cùng của chơn lý, cuối cùng ông tự thờ phượng theo nghi thức PGHH và phát nguyện qui-y tại nhà vào khoảng 1943 (năm Quý-Mùi), lúc ông vừa tròn 16 tuổi

                          “Kẻ xa xuôi có lòng ái mộ,

                           Xem kệ này tu tỉnh tại nhà.”

                                  (Giác Mê Tâm Kệ - Đức Thầy)

Đến năm 1945 (Ất-Dậu) trong cuộc đi khuyến nông, ĐỨC THẦY có ghé làng Bình Tiên diễn thuyết vào ngày rằm tháng 06/âl. Qua ngày sau, ngày 16/06 do sự yêu cầu của ông Phán Long, ĐỨC THẦY xuống Phú Long diễn thuyết tại nhà ông Cả Khoái là anh vợ của ông Phán Long, ông Phán Long tức người tặng cho ĐỨC THẦY chiếc xe du lịch, ngày nay còn lưu kỷ niệm tại An-Hòa tự. Nhân cơ hội này ông Thanh-Sĩ có dịp trực tiếp diện kiến ĐỨC THẦY, và hầu chuyện thầy trò rất vui vẻ, thuật theo lời ông Chín Nhân ở Rạch Miễu (Bình-Tiên) kể lại.

Nơi đây ĐỨC THẦY có tiên tri một vài điều, như ở Bình-Tiên, Ngài cho biết “Việc tu bá tánh bắn lùi như tôm.” Phật ban phước cho làng Bình Tiên, nào là ngã tư chợ Quán, thời đó chỉ có ngã ba trại Quán, sau này từ Tân Phú có đào ra một con kinh để xả phèn đã hình thành ngã tư, ngày nay nơi đó có nhóm chợ, nên gọi là chợ Quán, (thuật theo lời ông Hai) nên ở rạch Gỗ đền gần đình Bình-Tiên. Còn khi ở Phú Long, ĐỨC THẦY đang thuyết giảng có người đem ly nước đến dâng cho Ngài ly nước liền bể hai, Ngài liền cho biết sau nầy cái làng Phú Long tan nát như ly nước vậy, và Ngài còn nói với Cả Khoái: miếng đất này sau này không phải của ông nữa, quả đúng như lời tiên tri của ĐỨC THẦY, sau cuộc xô xát người dân Phú Long phải tản cư lên vùng Bình-Tiên và các vùng lân cận cư ngụ, ông Thanh-Sĩ cùng mẹ cũng lên Bình-Tiên nương náo nhà đồng đạo (cũng vào khoảng năm 1945), còn hàng rào và nhà cửa ông Cả Khoái bị Việt Minh phá sạch và bỏ hoang đến ngày nay bị chính quyền hiện tại trưng thu toàn bộ.

Biến cố ngày 25/02 nhuần năm Đinh-Hợi âl. nhằm ngày 16/04 /1947 là ngày ĐỨC THẦY thọ nạn tại Đốc Vàng hạ, tại trung tâm huyện Thanh Bình, Đồng Tháp gây nên cảnh “Thầy lạc tớ không ai dạy bảo” cũng trong năm đó, ông Thanh-Sĩ cùng với mẹ và một số bà con bồng chống lên vùng Thánh Địa nương náo. Đến làng Phú An, ông được ông Hai Bụng ở bản xứ chiếu cố và giới thiệu ông đến gặp ông Phan Bá Cầm, hai bên đàm đạo rất tâm đắc.

D- ĐI CHÂU THUYẾT

Vào khoảng tháng 04 năm Mậu Tý (nhằm năm 1948), ông Bùi Xuân Cứ đem thơ mời ông đến Văn phòng Tỉnh bộ Châu Đốc tại xã Hiệp Xương. Khi đến nơi thì gặp các ông Kinh lý Lâm Đồng Thanh, ông Phan Bá Cầm và ông Huỳnh Hữu Phỉ tự Hào Phỉ cùng một số trí thức trong đạo, cùng nhau đến xã Hưng Nhơn tại Văn phòng Liên tỉnh để diện kiến ĐỨC ÔNG, xin phép với ĐỨC ÔNG cho ông Thanh-Sĩ được đi châu thuyết, được ĐỨC ÔNG vui vẻ chuẩn ý. Cuộc châu thuyết được bắt đầu vào ngày 16/04 năm Mậu Tý (1948). Trong quyển “Châu Thuyết” có đoạn:

                          “Tôi như đồng đạo trẻ già,

                 Theo Huỳnh Giáo Chủ tại gia tu hành.

                          Tu hồi mười sáu tuổi xanh,

                 Đến năm Mậu Tý xuất hành khuyên dân.”

Năm ấy ông đúng 21 tuổi, danh từ Cậu Hai, vì lúc đó quí bà gọi ông Hai Ngoán bằng Cậu Hai lớn, gọi ông Thanh-Sĩ bằng Cậu Hai nhỏ, cho tiện cách xưng hô.

         Buổi thuyết trình giáo lý đầu tiên tại nhà ông Hội đồng Thái xã Phú Lâm, kế tiếp là chùa Dòng Thành (Long sơn), rồi đến Cù lao Long Thuận, Long Khánh rồi xuống Mỹ Hội Đông (tại nhà ông Cả Mười), rồi đến Nhơn Mỹ, Tham Buôn, Sơn Đốc, Mỹ Hòa Hưng… Kế đó, ông Trần Văn Soái tự Năm Lửa cho Đại đội Hồng Nam đem tàu đến rước ông về Cái Vồn thuyết giảng tại Tổng hành dinh, rồi về Mỹ Hội Đông, kế qua Bình Đức (Long Xuyên), đến Hòa bình, Vàm cống, Lấp vò, Định yên qua Cái sao, Mỹ thới (rạch Ròi) rồi trở về Mỹ Hội Đông dự lễ 18/05 kỷ niệm ngày ĐỨC THẦY KHAI ĐẠO LẦN THỨ 9, nơi đây ông cũng thuyết giảng. Xong, ông trở lại quê nhà thuyết giảng tại Nha Mân và Sa đéc, vô Bình Tiên, đi Lai Vung, Long Thành, sang Cù Lao Cát (Tân Lộc Đông, Tân Lộc Tây) sang Cả Ngãi, xuống Bằng Tăng, Ô Môn, qua Phong Hòa, rồi đến Tổng hành dinh Vĩnh Long, rồi lên Phú Lâm ở Sài gòn, rồi tới Bến Thành thuyết giảng tại dinh quan Thứ Trưởng, v.v... Cuộc thuyết giảng nầy có tất cả 50 vị trí, khi ông về Cần Thơ thì ông Năm Lửa mời về Tổng hành dinh, cho biết Tướng Rờ-đong (Pháp) bảo tôi phải quản thúc ông ở đây, ông ở trong dinh đúng 100 ngày.

         Thấy ông thuyết giảng được rất nhiều người ngưỡng mộ, có một số đồng đạo sợ ông mở ra mối đạo mới, ông hiểu rõ tâm lý này, trong quyển “Châu Thuyết” có một đoạn ông bày tỏ:

                          “Về Hòa Hảo tỏ tường sự thật,

                           Cho ông, bà lòng bớt nghi nan.

                           Rằng tôi đây chung một đạo tràng,

                           Nay gặp lúc nhạn Nam én Bắc.

                           Thầy lạc tớ không ai dìu dắt,

                           Tôi đứng ra để nhắc đệ huynh.

                           Noi chí Ngài Phật tổ hy sinh,

                           Lìa vật chất dứt tình tham luyến.

                           Chớ chẳng phải làm điều tà kiến,

                           Xin nhờ ơn minh chánh dùm cho.

                           Lấy lòng thương bể cả lần mò,

                           Cũng được chút thơm tho đạo lý.”

E- BẢO TỒN ĐẠO PHÁP

Muốn bảo tồn đạo pháp, đúng theo hoài bảo của ĐỨC THẦY:

                          “Ước mơ thế giới lân HÒA HẢO,

                           Nhà PHẬT con TIÊN hé miệng cười.”

Ông bàn với ông Thiện Duyên (tức là Phan Bá Cầm) trùng tu ngôi Tây An Cổ Tự, để làm cơ sở nghiên cứu và truyền bá giáo lý, đúng theo tôn chỉ VIỆT-NAM PHẬT GIÁO LIÊN HIỆP HỘI, lập tức lập ra ba ban:

1- Ban nghiên cứu đạo Phật.

2- Ban truyền bá đạo Phật.

3- Ban chẩn tế.

Nếu muốn chấn hưng đạo Phật thì phải có tất cả ba ban, không thể thiếu một, ĐỨC THẦY đã khuyên Ban nghiên cứu và Ban truyền bá hằng ngày tra cứu kinh điển hoặc dịch sách, viết sách nói về đạo Phật, và hãy giảng giải đạo Phật cho đại chúng nghe, hoặc mở trường dạy đạo Phật, nhứt là phải:

                          “Chớ chia rẽ phải đồng tâm lực,

                           Khua giọng vàng đánh thức bốn phương.

                                  Chấn hưng Phật giáo học đường,

                 Dưới trên hòa thuận chọn đường qui nguyên.”

Ông Thanh-Sĩ đã làm đúng theo lời chỉ dạy của ĐỨC THẦY, là tiếp tục khai thông nền đạo đức, đặng cái tinh thần từ bi bác ái được gieo rải khắp nơi nơi trong bá tánh, như thế ta chẳng phụ công trình vĩ đại của Đức Phật, của tiền nhân để lại và không đắc tội với kẻ đời sau vậy.

Trù liệu xong và được sự đồng ý của Chỉ huy trưởng là Thiếu Tướng Nguyễn Giác Ngộ năm 1952 bắt đầu khởi công, đến đầu năm Giáp Ngọ 1954 đã hoàn thành ngôi chùa. Ban Quản Tự đứng ra thành lập Ban Hoằng Pháp Tây An Cổ Tự, ông Thanh-Sĩ được bầu làm Giám-Đốc, cộng với 5 Giảng viên là ông Thiện Duyên, ông Thiện Ngôn, ông Thiện Hạnh, ông Bùi Xuân Cứ làm Thơ ký, ông  Tám Hiếm làm Giám trường.

Khóa 1 tên gọi là HÒA HẢO đào tạo 4 tháng, đậu được 22 giảng viên, ngay buổi lễ Bế giảng. Sau đó ông mở thêm khóa thứ nhì, khóa nầy đậu được 30 giảng viên nữa trong số 52 khóa sinh, khóa nhì được đặt tên Tây An. Ban Hoằng Pháp phân công đi thuyết giảng giáo lý khắp nơi trong số giảng viên nầy có các ông Đặng Thành Tựu, ông Võ Như Sanh, ông Nguyễn Hà Khê là họa sĩ, ông Nguyễn Văn Nam, ông Bùi Văn Ưởng, ông Nguyễn Văn Tí, ông Ngô Văn Khởi,..v.v…                         

Đến năm 1965, Chủ tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia do Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu đến Tổ Đình trao pháp nhân được quyền phục hoạt Giáo Hội, là Sắc luật 02. Quý ông được mời về Giáo hội cộng tác giáo sự, và quí ông làm việc rất đắc lực.

         Nói tóm lại nếu không có sự hiện diện của ông Thanh Sĩ thời đó đạo PGHH không có người truyền bá, khi Đức Tôn sư vắng mặt, ai là người hướng dẫn chúng ta hiểu được giáo lý, theo tôi nhận xét phần lớn là  do ông làm gương mẫu.

Đến nay, có nhiều giảng viên xuất sắc, phần lớn do ông khởi xướng  mới thành phong trào hôm nay và mãi mãi về sau. Ông xứng đáng là một anh cả, cho chúng ta noi theo. Ông đã làm sáng tỏ giáo lý PGHH, và chứng minh rằng giáo lý PGHH là chơn lý cho nên có người tu phát huệ, không ai dám xem thường tín đồ PGHH. Thật là một điều vinh hạnh cho chúng ta, sách xưa có câu “độc thọ hoa khai vạn thọ hương” (nghĩa là: một cây hoa trổ, muôn cây đều thơm lây.)

                          “Có xạ nào phải bán xa,

                 Giấu trong chỗ kín cũng thơm đầy nhà.” (Đức Thầy)

F- XUẤT NGOẠI

Tháng giêng 1955 ông định mở thêm một lớp Trung cấp Hán học và khóa Trung cấp Giáo lý. Bất ngờ ông đình lại, để xin giấy phép xuất ngoại qua Nhựt du học để nghiên cứu giáo lý Phật giáo, vì lúc bấy giờ trường nghiên cứu Phật học thế giới được đặt trụ sở tại Nhựt.

Ông ra đi có nhiều lý do, theo tôi hiểu nếu ở trong nước ông phải đối đầu với bao nghịch cảnh khó khăn:

1- Phải đối đầu với bao ganh tỵ,

2- Phải đối đầu với chế độ Ngô Đình Diệm vì sự binh vực Công giáo mà loại trừ các tôn giáo khác,

3- Phải đối đầu với Việt Minh.

Mạng sống rất mong manh, với chế độ độc tài toàn trị:

                          “Nước túng tầm phương chống kẻ tài”

Hay là:

                          “Tài tai hai chữ cân phân,

                 Trời ban họa phước một lần cho ta.” (Đức Thầy)

                          “Chữ tài liền với chữ tai một vần.”

(Kim Vân Kiều -  Nguyễn Du)

Ông ra đi vì lý do nêu trên, có một số đồng đạo quan niệm rằng ông đi như vậy là bất hiếu với mẹ, rồi lấy câu “Phụ mẫu tại đường, bất khả viễn du” (nghĩa là: cha mẹ còn hiện tại, không nên đi xa), rồi thống trách ông, quên rằng Đức Khổng Tử nói cả hai câu, chúng tôi xin trình bày câu thứ hai là “Du tất hữu phương” (nghĩa là: đi phải có mục đích.) Như vậy ông đi có phương hướng có lý do là không bất hiếu:

                          “Các bậc Thánh châu lưu nhiều nước,

                           Nghèo thầy Nhan bầu nước đai cơm.

                           Tuy cơ hàn mà được danh thơm,

                           Hơn phú quí ngồi ôm bả lợi.”

Hay là:

                 “Sách có chữ thâm ân dục báo,

                  Phận làm người hiếu thảo noi gương.

                  Ấy chẳng qua là đạo luân thường,

                  Chớ Phật Thích lìa quê ngàn dặm.

                  Non Tuyết san rú rừng thăm thẳm,

                  Đem thân phàm tầm đạo siêu sanh.

                  Đến ngày nay còn rạng lấy danh,

                  Khắp bốn biển dân lành sùng bái.”

Hoặc:

                          Đắc đạo rồi cứu vớt tổ tông,

                          Cũng như Phật xuất gia thuở trước.

                                                           (Sa Đéc - Đức Thầy)

Ông cũng bày tỏ:

                          “Lo câu Phật giáo đại đồng,

                 Gát đi chữ hiếu hiện trong đời này.

                          Cúi xin mẹ nhận nơi đây,

                 Thứ cho con trẻ những ngày đi xa.

                          Tạm ngưng chữ hiếu nơi nhà,

                 Để lo chữ hiếu người ta hoàn cầu.

                          Hiếu nhà hứa chẳng mất đâu,

                 Nếu bề hiếu đạo hoàn cầu lo xong.

                          Mẹ ơi mẹ hãy vui lòng,

                 Hiến con cho khắp đại đồng nhơn sanh.”

                                            (Con thuyền đại đạo - Thanh-Sĩ)

Nói tóm lại, chúng tôi tha thiết cầu xin đồng đạo nào có xem qua lời nhận xét của chúng tôi mong rằng quí vị cũng hoan hỉ.

G- QUAN NIỆM VỀ GIÁO LÝ

Có đồng đạo thắc mắc hỏi tại sao đệ tử lại viết kinh sách nhiều hơn thầy.

Chỗ nầy chúng tôi xin trả lời, bởi vì giáo lý của ĐỨC PHẬT, ĐỨC THẦY thuộc về Kinh luật, có những câu huyền bí sâu xa nên chúng ta bàn hoài bàn mãi mà cũng không thấy cùng:

                          “Đạo lý tầm sâu, sâu chẳng cạn.”

Hoặc:

                          “Ta nào có nói thêm cho chúng,

                           Quá yêu đời viết túng ít câu.

                                  Ít câu mà ý nhiệm sâu,

                 Nghĩ suy cho cạn mới hầu khôn ngoan.”

                                                  (Thiên lý ca - Đức Thầy)

Một phẩm kinh Bát Nhã vỏn vẹn có 260 chữ mà Trần Huyền Trang Tam Tạng Pháp sư dịch luận thành 600 quyển, vậy đâu có dư, còn Giáo lý của ĐỨC THẦY trên 500 trang giấy trên dưới 10.000 lời, Ông Thanh Sĩ luận có mười bảy tác phẩm Hiển Đạo, hai quyển Thuyết pháp Ứng khẩu, 1 quyển Thi lục, 1 quyển Châu Thuyết với vài quyển khác, theo tôi nhận thấy cũng chưa hết ý của Phật, của Thầy, bởi Kinh luật và Giáo lý của Đức Thầy có vô lượng nghĩa.

Kết luận, như lời nhận xét của chúng tôi, ông Thanh-Sĩ đã tu theo Giáo lý của PGHH được kết quả, ông cũng là tấm gương để chúng ta noi theo, đây là tấm gương các bậc Thánh hiền và chư Phật đã nêu rõ trong lịch sử mà ĐỨC THẦY cũng có nói rõ trong Giáo lý.

Khi xem qua bài viết này, mong rằng quí thiện trí thức, quí độc giả cùng chư quí đồng đạo phê bình và đóng góp thêm ý kiến hay chúng tôi xin thành thật biết ơn.

                 THANH  TÂM    KIẾN      CHƠN    PHẬT

                            KHÍ    PHÙNG  CHÁNH  GIÁO

                 HIỂN      PHÁP  PHẬT     NHƠN    HÒA

                 ĐẠO       KHAI   MÔN      TỪ        HẢO

                                                        (Thanh-Sĩ)

Lời cuối chúng tôi có đôi lời kính chúc quí vị được nhiều sức khỏe, tinh thần sáng suốt và mạnh mẽ, bồ đề tâm kiên cố, tinh tấn tu hành, sớm viên thành đạo quả./.

 
Comments