2012/03/09 - TẠI SAO TA PHẢI TU ?

TẠI SAO TA PHẢI TU ?

“Nhìn Phật giáo mà tìm cái lý,

Coi tại sao ta phải tu hành.”

Hai câu thánh ngôn trên, Đức Thầy nhắc nhở chúng ta khi xem Kinh kệ (nghĩa là lời của Phật dạy) phải suy tìm nghĩa lý cho thấu đáo rồi thực hành thì mới thành công đắc quả.

         Phàm trước khi làm việc gì đều phải đặt câu hỏi tại sao? Tại sao ta phải làm việc đó có lợi hay là có hại? Nếu thấy việc làm có lợi thì chúng ta mới có thể thực hành.

         Khi đi vào một thành phố có muôn đường vạn nẽo, nếu chúng ta không biết bản-đồ và địa chỉ thì phải bị lạc lối, thế nên ta phải nắm rõ địa bàn mới không bị lầm đường lạc lối.

         Anh thủy thủ phải có la-bàn, người đi rừng phải có kim chỉ nam, như vậy mới không lạc giữa mênh mông biển cả và rừng thẳm.

         Nói tóm lại trước khi chúng ta muốn làm việc gì hay đi đến một nơi nào mà chúng ta hiểu thấu đáo việc làm và rành đường đi nước bước, thì chúng ta làm mới có kết quả, đi không bị lạc lối.

         Cũng như thế, khi chúng ta xem Kinh luật, tức là lời chỉ dạy của PHẬT mà tìm hiểu được nghĩa lý, thấu triệt được chơn lý rồi thực hành thì không bị lạc lầm, chắc chắn sẽ được thành tựu viên mãn.

         Theo chúng tôi tìm hiểu, tu có năm phần lợi ích:

1- Tu giải thoát khổ,

2- Duyên lành gặp được PHẬT PHÁP,

3- Tu được ân xá tội căn,

4- Tu sống qua đời Thượng nguơn và được dự HỘI LONG HOA,

5- Tu độ thoát CỬU HUYỀN THẤT TỔ và PHỤ MẪU.

1.- TU GIẢI THOÁT KHỔ

         ĐỨC THẦY có câu:

                          “ĐỨC THÍCH CA xưa ở lầu đài,

                           Nghiệm tứ khổ nên Ngài tầm đạo.”

ĐỨC PHẬT nói rằng : “Tất cả chúng sanh trong cõi trần nầy chịu muôn ngàn điều khổ não kể chẳng xiết, nhưng có thể tóm lại làm tám điều và trong tám điều khổ ấy nó có thể nảy ra muôn ngàn sự khổ não kia.”

         KHỔ về xác thân gồm có 4 nỗi khổ: Sanh, Lão, Bịnh, Tử.

         KHỔ về tinh thần cũng gồm 4 nỗi khổ: Mưu cầu bất đắc khổ, Thương yêu ly biệt khổ, Oan tắng hội khổ, Ưu sầu lo ngại khổ (khổ thứ tám PHẬT gọi là Ngũ ấm xí thạnh khổ).

Khổ do tập nghiệp vô minh và vọng tưởng sanh ra, nếu tu dứt đươc vô minh, đoạn được vọng tưởng là hết khổ.

ĐỨC THẦY dạy: “Nếu ta tìm con đường Bát chánh đạo của PHẬT mà đi, giữ tâm thanh tịnh, làm việc nhơn từ, không lòng hờn giận, chẳng dạ ghét ganh, chuyên tâm niệm Phật, giúp thế độ đời, đừng chứa điều phiền não và để bụng tham lam ích kỷ gây mối thiện duyên, lần lần trí huệ sẽ mở mang, màn vô minh sẽ bị diệt”, như thế là giải thoát khổ.

                              Lần nầy là dịp thoát trần,

                        Không tu thì chẳng còn lần nào tu.
                                            -x-

Khổ phải rán tu, tu cho giải khổ,

Chớ nản lòng khi nạn nọ, tai kia.

Phước càng tăng thì tai họa càng lìa,

Ngục đời mở phải mượn chìa khóa đạo.

Phải rán tu cho Tây phương Phật đáo,

Lắm chông gai hay hổ báo mặc dù.

Nếu kiếp này không tu thoát phàm,

Thì kiếp tới chìm sâu trong biển khổ.

Khó gặp Phật để được mà cứu độ,

Khó làm người để nghe rõ Kệ kinh.

Tuy khó tu trong đời sống đao binh,

Nếu tu được có Thần minh ủng hộ.

Phải rán tu cho cõi lòng giác ngộ,

Đem pháp tu ra cứu độ nhơn sanh.

Dùng đạo mầu biến đời trược hóa thanh,

Lấy trí đạo biến khổ thành Cực lạc.

Đã biết rõ cõi đời là dối gạt,

Hãy rán tu đừng để mắt say sưa.

Nên nhìn đời như mây bị gió đưa,

Tất lòng dạ mến yêu đời sẽ hết.

Lau mãi sẽ sạch gương đầy bụi bết,

Luyện luôn thì ắt hết tánh phàm phu.

Đạo muốn thành phải bền dẽo chí tu,

Cả đời sống hướng về câu giải thoát.”

(Thanh Sĩ)

2.- DUYÊN LÀNH GẶP ĐƯỢC PHẬT PHÁP

                          “Duyên lành rõ được khùng điên,

                 Chẳng qua kiếp trước thiện duyên hữu phần.”

                                                                     (Đức Thầy)

Sách có câu:

                 “Nhơn thân nan đắc.” (nghĩa là khó làm được thân người).

                 “Phật pháp nan văn.” (nghĩa là  khó được nghe Phật pháp).

                 “Thiện duyên nan ngộ.” (nghĩa là khó kết được bạn lành).

                 “Phật độ nan sanh.” (nghĩa là khó sanh vào quốc độ của Phật).

                 “Nhơn thân nan đắc kim dĩ đắc.” (thân người khó được nay lại được).

                 “Phật pháp nan văn kim dĩ văn.” (Phật pháp khó được nghe nay lại được nghe).

                 “Thiện duyên nan ngộ kim dĩ ngộ.” (duyên lành khó gặp nay được gặp).

                 "Phật độ nan sanh kim dĩ sanh.” (khó sanh vào quốc độ Phật nay lại được sanh).

                          “Xưa nay không có mấy khi,

                 Dương trần có Phật vậy thì xuống đây.”

                 (Đức Thầy)

Nói tóm lại, chúng ta sanh vào thời kỳ cùng cơ tận pháp mà được làm người, được nghe Phật pháp, được gặp bạn lành, và được sanh vào quốc độ, nghĩa là nơi Thánh địa của Phật ra đời giáo hóa chúng sanh là may duyên tốt phước cho chúng ta và có cơ hội cho chúng ta tu giải thoát.

                          Một ngày làm bạn với sen,

                 Còn hơn trọn kiếp làm quen với bèo.

                                           -x-

                          Trăm năm làm bạn kẻ hung,

                 Không bằng một bữa ngủ chung bạn hiền.

3.- TU GẶP THỜI KỲ ĐẠI ÂN XÁ

                          “Kỳ xả tội nay còn một lúc,

                           Sao chẳng tu đặng có hưởng nhờ.”

Căn cứ vào hai câu giảng của ĐỨC THẦY, theo chúng tôi hiểu rằng vào thời kỳ Hạ nguơn Mạt pháp chúng sanh căn mỏng nghiệp dày, tinh sâu huệ cạn “Người tâm trí tối đen, đời lắm Ma vương khuấy rối” nên Phật trời thương xót mà mở Đại ân xá cho chúng sanh và cho Phật, Tiên, Thánh, Thần lâm phàm độ thế.

“Trước ra công cứu khổ sau chỉ rõ cơ huyền khuyên kẻ thế hướng thiện quày đầu cải tà quy chánh mới mong Thiên đình ân xá bớt tội căn.” (Đức Thầy).

Cũng như người làm ăn vay vốn của Ngân hàng mà găp thời kỳ lạm phát, làm ăn buôn bán lỗ lã không có tiền trả vốn lẫn lãi cho Ngân hàng thì Ngân hàng phải đình hoãn thâu vốn và lãi xuất đối với người vay vốn, hoặc Nhà nước còn giúp vốn cho tiếp tục làm ăn.

                          “Hạ ngươn Trời Phật thả tù,

                 Niệm một tiếng Phật, Phật bù mười câu.” (Thanh Sĩ)

                          “Xác trần có mấy lăm hơi,

                 Hỏi vay có một mà lời đôi ba.” (Đức Thầy)

Nói tóm lại, tu vào thời kỳ Phật Trời mở Đại ân xá là dễ tu và mau thành.

4.- TU LÀ ĐƯỢC SỐNG ĐỜI THƯỢNG NGUƠN THÁNH- ĐỨC VÀ DỰ HỘI LONG-HOA

Theo quan niệm của Nho giáo có Tam nguơn (là 3 nguơn):
1.- Thượng nguơn, 2.- Trung nguơn, 3.- Hạ nguơn.

(a). Thượng ngươn là thời kỳ tuổi thọ kéo dài, gồm có 3 nguơn nhỏ:

- Thượng nguơn thượng,

- Thượng nguơn trung,

- Thượng nguơn hạ.

                 “Đời thượng nguơn tuổi sống dư muôn.”

                                                            (Ông Ba Thới)

(b). Trung nguơn là tuổi thọ không dài và không vắn cũng gồm có 3 nguơn nhỏ:

- Trung nguơn thượng,

- Trung nguơn trung,

- Trung nguơn hạ.

                 “Trung nguơn giữ dạ phép khuôn trên ngàn.”

                                                            (Ông Ba Thới)

(c). Hạ nguơn là thời kỳ tuổi thọ rất ngắn, tức là thời kỳ chúng ta hiện nay và cũng có 3 nguơn nhỏ:

- Hạ nguơn thượng,

- Hạ nguơn trung,

- Hạ nguơn hạ.

                 “Đời Hạ nguơn hay chết tuổi xanh,

                   Như thuở trước Nhan Hồi còn trẻ.”

                                                            (Đức Thầy)

Cứ thế mà xoay vần, hễ hết Thượng đến Trung, hết Trung đến Hạ, hết Hạ trở lại Thượng.

THƯỢNG NGUƠN là thời đại hoàng kim, con người sống hiền nhơn, thánh đức nên gọi là đời Thánh đức là THỜI ĐẠI THÁI HÒA.

TRUNG NGUƠN là thời đại tiếp nối của Thượng nguơn, con người sống theo hiền nhơn quân tử nên gọi là THỜI ĐẠI TUYỆT HẢO.

HẠ NGUƠN là thời đại cuối cùng của Tam nguơn, tiểu nhân nhiều hơn người quân tử, lành ít dữ nhiều nên gọi là Thời Kỳ TẬN DIỆT.

Để lập lại Thượng nguơn, Thượng nguơn là nguơn tái tạo là thời kỳ đầu của Tam nguơn cũng gọi là đời thanh tân THÁNH ĐỨC.

                          “Dùng phép mầu lập lại Thượng nguơn.”

Theo quan niệm của Phật giáo, đời quá khứ có Đức Phật Nhiên Đăng lập Liên Trì hội cũng trải qua 3 thời pháp.

Đời hiện tại có Đức Phật Thích-ca Mâu-ni lập Linh Sơn hội cũng trải qua 3 thời pháp

Đời vị lai có Đức Phật Di-Lặc lập Long-Hoa hội cũng trải qua 3 thời pháp. Ba thời pháp là: Chánh pháp, Tượng pháp và Mạt pháp.

a)- Chánh pháp là thời của Phật còn trụ thế, có phân làm hai thời là Giải thoát kiên cố và Thiền định kiên cố.

1.- Giải thoát kiên cố: nghĩa là tu thì chắc chắn giải thoát.

2.- Thiền định kiên cố: nghĩa là tu thiền định chắc chắn được đắc định.

b)- Tượng pháp là thời kỳ Phật nhập Niết-bàn truyền lại giáo pháp cho các chư tăng.

Cũng có hai thời: Văn tự kiên cố và Tự tháp kiên cố

1- Văn tự kiên cố: nghĩa là chỉ học thông về nghĩa lý, văn tự.

2- Tự tháp kiên cố: nghĩa là xây dựng chùa tháp kiên cố, chắc chắn.

c)- Mạt pháp là thời kỳ Pháp môn bế mạt, bặt truyền y bát và tâm ấn, là thời kỳ tranh đấu kiên cố, nghĩa là “thời kỳ phân chia tông này phái nọ” rồi chấp tông phái của mình là đúng, tông phái khác là sai.

Trong đoạn cuối của quyển Khuyến Thiện, Đức Thầy có nói rõ:

 “Nếu xuất gia thì phải hy sinh,

Cả vật chất tinh thần lo Đạo.

Chớ giả dối mà mang sắc áo,

Mượn BỒ-ĐỀ chuỗi hột lòe người.

Làm cho dân khinh dể ngạo cười,

Tội lỗi ấy luật nào dung thứ.

Tu mà ham chay to đám bự,

Đặng thế gian dưng cúng bạc tiền.

Dối rằng lo tu bổ chùa chiền,

Mà làm của xài riêng cho thỏa.

Bảo làm sao dân không sa ngã,

Nghe lời rù Tông nọ phái kia.

Cả tăng đồ trong nước chia lìa,

Riêng PHÁP BẢO, riêng chùa, riêng PHẬT.”

Nói tóm lại, đây là một thời kỳ hỗn độn, câu quân thần phụ tử rã rời. Đó là ngoài đời, còn trong Đạo thì chia phe chia phái, nào là tranh ngôi, tranh vị, nào là tranh thế dành quyền, nào là tranh chùa chiền, am cốc, v.v…

Theo thời kỳ thay đổi, qua thời kỳ Chánh pháp rồi đến Tượng pháp cuối cùng là Mạt pháp. Nếu hết thời kỳ Mạt pháp sẽ trở lại thời kỳ Chánh pháp là thời kỳ Đức Thích Ca chuyển giao ngôi Giáo chủ cõi Ta-bà lại cho Đức Phật Di-Lặc mở Hội Long-Hoa, vì vậy nếu chúng ta tu trong thời này sẽ được dự hội Long-Hoa:

“Long Hoa chư Phật đáo Ta-bà,

 Lừa lọc con lành diệt quỉ ma.”

Hoặc: “kíp đến LONG-HOA chầu PHẬT cùng hữu duyên nghe PHẬT PHÁP NHIỆM-MẦU kiến diện bậc CHƠN SƯ tu hành mau đắc quả.” (Đức Thầy)

5.- TU ĐẮC ĐẠO CỨU CỬU HUYỀN

“Rán tu đắc đạo cứu Cửu Huyền,

 Thoát chốn mê đồ đến cảnh tiên.

 Ngõ đáp ơn dày công sáng tạo,

 Cho ta hình vóc học cơ huyền.” (Đức Thầy)

Sách có câu: “Nhứt nhơn đắc đạo, Cửu huyền thăng”, (nghĩa là một người tu đắc đạo, ông bà cha mẹ đều được siêu thăng).

Bằng chứng xưa kia Đức Mục Kiền Liên tu hành đắc đạo cứu được mẹ Thanh Đề và bảy đời ông bà cha mẹ đều được siêu thăng.

Đọc lại bài Nguyện trước bàn thờ ông bà thì ta thấy rõ lợi ích cho mình, cho Cửu huyền Thất tổ và cả Tông môn dòng giống.

      KẾT LUẬN, chúng ta rất may duyên, tốt phước mới sanh được làm người nghe được Phật pháp và biết tu hành trong thời kỳ Hạ nguơn Mạt pháp. Đây là dịp thoát trần lần cuối cùng của buổi Hạ nguơn. Cũng là thời kỳ Đại ân xá dễ tu dễ đắc và sống qua Thượng nguơn Thánh đức, được dự hội Long Hoa nghe Phật pháp Nhiệm mầu, tu hành mau đắc quả. Như vậy, ta có cơ hội đền đáp công ơn sanh thành dưỡng dục của Tổ tiên cha mẹ.

                 “Đắc đạo rồi cứu vớt tổ tông,

                  Cũng như Phật xuất gia thuở trước.” (Đức Thầy)

Comments