2012/05/16 - Sự Hóa hiện của Đức Thầy

 Sự Hóa hiện của Đức Thầy

 

Mỗi người trong chúng ta, nếu có ai để tâm nghiên cứu Kinh điển Phật giáo đều hiểu rằng bất cứ vị Phật nào cũng đều có Tam thân: Pháp thân, Báo thân và Hóa thân.

1.- Pháp thân là chơn thân của vạn pháp, thể lượng rất rộng lớn như hư không, chẳng có sắc tướng gì chỉ được, lúc nào cũng thường nhiên thanh tịnh. Hết thảy muôn loài đều có pháp thân nhưng vì mê muội mà thành ra cách biệt.

Trong kinh Phật có câu:“Phật chơn pháp thân do như hư không, ứng vật hiện hình như thủy trung nguyệt”. Nghĩa là chơn Pháp thân của Phật ví như hư không, tùy vật mà hiện hình như trăng dưới nước. (Về Lý Pháp thân, được hiểu là cái lý tánh đã sẵn giác ngộ, Phật và chúng sanh đều có đủ. Nhưng ở chúng sanh, cái Pháp thân ấy còn bị màn Vô minh che khuất, nên chưa hiển hiện ra - theo Phật Học Tự Điển của Đoàn Trung Còn).

“Tính xong món nợ lần khân,

Thoát vòng cương tỏa pháp thân nhẹ nhàng.”

(Hoài Cổ)

                     “Mắt thấy đứa vô nghì phát giận,

                   Ngặt nỗi mình còn bận pháp thân.”

(Bóng Hồng)

“Bực mình đeo đắm pháp thân,

Chờ cơn gió tạnh sẽ lần bước ra.”

(Thu đã cuối)

2.- Báo thân là cái thân xác mà Phật mang lấy khi xuống thế gian, cùng chịu sự sướng khổ với loài người, nên còn gọi là Sanh thân.

Về xác phàm (tức Báo thân) mà Ngài tạm mượn để hoằng khai Đại Đạo, cứu độ chúng sanh, chúng ta cũng được biết rất rõ ràng qua Sấm Giảng và Thi Văn Giáo Lý của Ngài:

                      - Kỷ Mão hạ san mượn xác trần,

                      Cảm tình đồng loại Lão khuyên dân.

(Cho Ô.Hương Chủ Bó)

- Xác Ta vốn là người quê dốt,

Nên mở mang chưa được mấy rành. (Q.4)

- Xác trần Ta mở oai thinh,

Đạo mầu truyền pháp thình lình không hay.”

(Dặn dò bổn đạo)

- Thương trần thế kể sao cho xiết,

Mượn xác trần bút tả ít hàng. (Q.2)

- Lời khuyên xưa cũng một lần,

Nay mượn xác trần xuống bút ra cơ. (Q.3)

- Dấu xưa noi tích Thánh hiền,

Thương trần mược xác bút liền ra cơ.

(Từ giã bổn đạo khắp nơi)

- Nay dạy thế cậy cùng ngòi viết,

Với xác trần du thuyết ít hang. (Q.4)

- Bây giờ nương bóng cờ tây,

                 Mượn phần xác thịt tỏ bày thiệt hơn. (Thiên lý ca)

                            - Ta là kẻ vô hình hữu ảnh,

                       Ẩn xác phàm gìn đạo Thích Ca. (Q.2)

                         - Ẩn xác phàm phu gìn Thích Đạo,

                           Mặc tình thế sự chúng khinh khi.

                            (Thiên lý ca)

                        - Ta mang mình thịt xác trần,

                  Ra tay dắt chúng được gần Bồng Lai. (Q.3)

                        - Hòa thôn Hảo cảnh xứ chi ta,

                          Tạm dắt nhơn sanh khỏi ái hà.

                          Tạo xác Huỳnh danh thanh sắc trẻ,

                          Chờ thời thiên định thiết hùng ca.

                                              (Hai mươi chín tháng chạp)

                           - Tới đây từ biệt khắp cùng,

                         Thầy lìa khỏi xác Thiên cung phản hồi.

                  (Từ giã bổn đạo khắp nơi)

- Xác trần Ta đã rời xa,

Bá gia ở lại vậy mà bình an.

        (Dặn dò bổn đạo)

 3.- Hóa thân là cái thân mà Phật dùng thần thông, biến hóa ra để hóa độ chúng sanh, nên còn gọi là Thần thông biến hóa thân.

Riêng về Hóa thân của Đức Thầy thì từ năm 1939 đến ngày vắng mặt (16-4-1947), Ngài đã hóa hiện rất nhiều lần trong nhiều trường hợp khác nhau. Như trong bài “Thay Lời Tựa” (tức Sứ Mạng của Đức Thầy) Ngài có viết:“…nên ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão, Ta hóa hiện ra đời cứu độ chúng sanh.” Kính mời quý Đồng đạo đọc lại những mẩu “Chuyện Bên Thầy” sẽ thấy ngay điều đó. Chẳng hạn như mẩu chuyện thứ 5 “Đức Thầy tắm sông” như sau: 

Vào năm 1939, nhân lúc ông Cả Chín là ông Cả ở làng Mỹ Hội Đông và người con là ông Bảy Dứt đến thăm, Đức Thầy rủ ông Bảy Dứt đi tắm với Ngài và có hơn 10 người cùng tắm chung (ông Bảy Dứt thuở đó cùng tuổi với Đức Thầy).

Trong lúc tắm tuy có trên 10 người nhưng Đức Thầy chỉ gọi ông Bảy Dứt kỳ lưng cho Ngài. Ông Bảy Dứt kỳ lưng cho Ngài nhè nhẹ, chớ không dám mạnh tay, vì lúc này kim thân của Ngài ốm quá. Thấy thế, Đức Thầy bảo: “Ông Bảy à! Kỳ lưng tôi cho mạnh đi, lưng tôi cũng đất không chớ gì.”

Nghe theo lời, ông Bảy kỳ mạnh, Đức Thầy gục tới, gục lui, sức không chịu nổi. Đức Thầy bỗng nhiên quay mặt nhìn lại thì ông Bảy thấy là một ông lão râu tóc bạc phơ, có chòm râu dài, lông nheo, lông mày toàn một màu trắng.

Từ đang tuổi thanh niên, bỗng chốc Đức Thầy trở thành một cụ già râu tóc bạc phơ, thật là ngoài sức tưởng tượng của ông Bảy, sự việc làm cho ông kinh hoàng tột độ, ông nhìn Đức Thầy mà sửng sốt. Thấy vậy, Đức Thầy bảo: “Chắc ông lạ lắm phải không? Mới đây tôi từ một người đang tuổi thanh xuân, bỗng chốc trở thành cụ già râu tóc bạc phơ. Nếu ông đọc lại Quyển Thứ Nhứt của tôi, thì ông sẽ biết rõ tôi hơn:

“Khi già lúc lại trẻ thơ,

Giả quê, giả dốt khắp trong thị thiềng.

Đi nhiều càng thảm càng phiền,

Lên doi, xuống vịnh nào yên thân Già.”

Rồi Ngài nói tiếp: “Tôi già cũng đặng mà trẻ cũng đặng, ông hãy nghe thêm một đoạn nữa:

“Vàm Nao rày đã đến rồi,

Quày thuyền ghé lại bằng nay Chợ Đình.

Hát hai câu hát huê tình,

Đậu xem dân chúng Chợ Đình làm sao.

Sáng ngày chợ nhóm lao xao,

Giả bận áo màu ai cũng dòm xem.

Mấy thằng trai trẻ thấy thèm,

Đứng xa quanh quẩn nói gièm với nhau.

Đứa này nói để cho tao,

Đứa kia xạo xự áo màu quá ngon.”

Sau câu chuyện, ông Bảy nhìn thấy Đức Thầy đã trở lại trạng thái bình thường là một người trai trẻ lúc đầu, và Ngài nói:

- Thôi bây giờ đến phiên tôi kỳ lưng lại cho ông Bảy.

Ông Bảy vội vàng thưa:

- Bạch Thầy, con đâu dám để Thầy kỳ lưng cho con.

- Thôi vậy cũng được, bây giờ mình cút bắt cho vui. (ngưng trích)

          Sau đây, chúng tôi xin được trình bày về sự Hóa hiện của Đức Thầy trong chuyến “Dạo Lục Châu” để thử lòng thiên hạ mà Ngài đã thực hiện trước khi viết ra Quyển Nhứt (tức “Khuyên người đời tu niệm”).

          Được biết, trong thời gian dạo Lục châu, Báo thân của Ngài vẫn nằm tại Tổ Đình do Ông Út Huỳnh văn Quốc canh giữ và phương tiện ban đầu là chiếc ghe lường có mui của Đức Ông. Trước tiên, Ngài cho biết là dùng thuyền chèo từ Tổ đình (Hòa Hảo) ngược dòng sông Tiền hướng về miệt Tân châu, Hồng Ngự. Thuyền nầy chính là chiếc ghe lường có mui của Đức Ông được Đức Thầy mượn dùng nhưng Đức Ông không hay nên cố tìm mãi mà không được. Sau đó, Đức Thầy đọc bài thơ sau đây cho Đức Ông nghe và bảo kiếm mấy ông thầy Nho mượn bàn thử:

“Thoàn nhỏ ly gia vị tất nan,

Bửu sanh du lịch Lục Châu giang,

Kim Sơn thương mãi toàn lê thứ,

Thức tỉnh bá gia giấc mộng tràng.”

                                                   (Hòa Hảo, tháng 7 năm Kỷ Mão)

Có điều đáng nói là Điên hay Khùng hoặc một vài nhơn vật trong chuyến dạo Lục Châu nầy đều là hóa thân do Đức Thầy hóa hiện, chớ thật ra xác phàm của Ngài vẫn còn nằm tại Tổ đình. Theo như lời ông Út (tức ông Út Huỳnh văn Quốc) thuật lại thì sáng hôm ấy, Đức Thầy có dặn ông coi chừng dùm phần xác của Ngài. Sau khi căn dặn, Đức Thầy nằm dài trên một cái ghế bố (đầu day vô nhà, chơn duỗi thẳng ra ngoài đường lộ) từ sớm mai đến lối 11 giờ sáng. Lúc đó Đức Thầy nằm im lặng, ngực chỉ thoi thóp với những hơi thở yếu ớt và đều đều. Có một lần Đức Thầy mở mắt ra, bảo ông Út đi hái một mớ bông trâm ổi rải chung quanh chỗ Ngài nằm. Cũng vào thời điểm đó, ông Út Quốc có lẻn bước ra ngoài đường tiểu tiện, đúng lúc ông gặp anh Gọn và anh Khâm trong vụ bán thuốc Sơn Đông và có rầy hai anh nầy, đúng với câu:

“Hai thằng ở xóm bằng nay,

Nó nói ngày rày thuốc chẳng có hay.

Người cha đi lại thấy rầy:

- Thiệt mấy đứa nầy cãi cọ làm chi.”

(theo quyển Thất sơn Mầu nhiệm của Dật Sĩ & Nguyễn văn Hầu).

Sau đây, chúng tôi xin tuần tự trình bày những địa điểm mà Đức Thầy dừng chơn và sự Hóa hiện của Ngài tại những nơi đó.

- Làng Long Khánh: giả làm hai Người đui mù đi ca hát xin ăn và ngủ lại đây một đêm.

- Chợ Hồng Ngự: bày trò bán thuốc, hát ròng đời nay; chỉ ở nơi nầy trong buổi sáng rồi đi.

- Tân Thành: giả làm Lão đưa đò nhưng ra mặt người lảu thông Đạo Nho. Sau đó, dùng rạch Cả Cái ra vàm nơi tiếp giáp với sông Tiền.

- Làng Tân An: giả làm Người Bán Cá, ở lại đây suốt đêm để giảng dạy cho bá tánh.

- Vàm kinh Xáng: giả làm Người Cùi nhưng được một người nghèo mà biết đạo lý mời vào nhà đàm đạo.

- Chợ Châu Đốc: giả Gái Không Chồng đi bán cau tươi, bị trêu ghẹo nên biến mất lên bờ giả làm cùi đui, gây lộn nói toàn tiếng Tây, Chà, Chệt…

- Vô núi Sam nhưng không ghé nơi nào.

- Núi Sập: giả làm Người Ngu, rao mời đi Bồng lai Tiên cảnh.

- Mặc Dưng:(tức rạch Mặc Cần Dưng) tiếp tục tay chèo còn miệng thì vẫn rao mời đi Tiên cảnh.

- Vàm Nao: không ghé nhà nào, vẫn tiếp tục rao giảng trong đó có đề cập đến biến cố Ông Năm Chèo sẽ gây nên thảm họa sau nầy.

- Cao Lãnh: ca hát ban đêm để dạy dỗ dương trần, mặc tình ai chưởi mắng cũng mặc.

- Phong Mỹ: từ Cao Lãnh ngược dòng lên kinh Phong Mỹ (khoảng 12 cây số) rồi ghé vào Rạch Chanh tìm ngưòi có tâm đạo.

- Làng Kiến Vàng: (thuộc quận Thủ Thừa, Long An) giả làm Đui Mù đói rách đi ăn xin nhưng được nhiều người chơn tu ở đây giúp đỡ.

- Bến Lức: giả làm Người Tàn Tật đón xe xin tiền, nói vè thơ ròng việc Thiên cơ.

- Chợ Ba Cụm: giả làm Người Bán Mắm bị người đời hiếp đáp chưởi mắng nên biến mất cả xác hồn.

- Chợ cầu Ông Lãnh: giả làm Ông lão Bán Trầu Cau bị bạn hàng chợ dở thói gian manh nên ghe người đều biến mất.

- Chợ Bến Thành: giả làm Tớ Thầy tha phương cầu thực bị lính kiểm tra giấy thuế thân rồi đòi bắt giam nên lại biến mất.

- Sài Gòn: giả làm Thầy Coi Bói dạo khắp phố phường, gặp được người tu niệm nên chỉ đường Vãng sanh Tịnh độ.

- Gia Định: giả làm Người Què đi khắp thị thiềng vừa xin cơm vừa nói tiên tri làm cho dương trần xôn xao bàn tán.

- Chợ Cần Thơ: giả làm Kẻ Quá Khờ có người vợ bị điên ca hát kiếm cơm bị người đời chê cười, khinh thị.

- Vĩnh Long: đến nơi gọi là “chợ quê” để rao giảng rồi đi ngay, không nói hóa hiện thế nào.

- Bến Tre: giả làm Chị Bán Chè bị trêu ghẹo, sau đó đem đạo lý ra nói nhưng không ai muốn nghe.

- Trà Vinh: bày ra bán thuốc vừa “hát kình” nhằm giáo hóa những ai không có lòng từ bi, đức độ.

- Mỹ Tho: khuyên người trần hạ rán lo tu trì vì đã có Phật lâm phàm.

- Cù lao Ông Chưởng: tiếp tục giảng dạy và rao mời đi Bồng lai Tiên cảnh. Ghé nhà ông Năm Hẳng phần xác ông Quan Vân Trường, ghé nhà ông chủ Phối ở lòng Ông Chưởng và đàm đạo với Đạo Ba. Ngoài ra còn gặp một nguời ỷ có tiền đòi đi Tiên cảnh nhưng vì xấc xược nên bị hộc máu chết. Sau đó, người và thuyền lại biến mất.

- Chợ Mới: giả làm Kẻ Hàn Nồi đi khắp xóm làng rao giảng nhưng cũng bị chê cười, biếm nhẽ.

- Ba Răng: ghé am Thầy pháp bàn việc tu hành nhưng bị người lối xóm gây gổ.

- Hòa Hảo: ghé nhà cô Tư Cứng giả làm người coi bói vừa khi Cô nầy bị mất trộm hết đồ đạc. Sau đó giả người bán thuốc Sơn Đông mời cô tư Cơ mua một ve thuốc bổ bị anh Gọn và anh Khâm cản, sau đó còn nhổ bừa cái răng cho một người trong xóm.

- Chợ Đình: từ Hoà Hảo xuống thuyền lên Vàm Nao rồi quày lại ghé Chợ Đình, giả gái Bận Áo Màu thử mấy thằng trai trẻ.

- Về Bảy Núi: giả người Nghèo Khó và biến hóa khi trẻ khi già rảo quanh khắp non núi vào thăm các chùa am, thấy người chơn tu thì ít còn người tu giả dối quá nhiều.

- Hà Tiên: giả Kẻ Không Tiền đi xin ăn.

- Trở về non cũ: Đức Thầy không nói rõ núi nào nhưng theo sự suy đoán của chúng tôi thì Ngài về núi Tà Lơn (?) để dạo chơi nhưng nhớ đến việc đời khiến Ngài rơi nước mắt nên đành xuống thuyền tiếp tục “đi dạy đủ chỗ khắp cùng”.

- Chợ Rạch Giá: giả Kẻ Có Cơn dạy dỗ chẳng ai nghe mà còn bị kêu lính bắt.

- Chợ Long Xuyên và Sa Đéc: giả làm Vợ chồng quê mùa, nói ròng vè thơ.

- Chợ Sóc Trăng: không nói hóa hiện thế nào, chỉ “nói rõ việc đời sắp khổ sắp lao” nhưng “chẳng có người nào tu niệm hiền lương”.

- Chợ Bạc Liêu : không rõ hoá hiện thế nào, chỉ cho biết “chợ nầy tàn ác quá nhiều”.

- Chợ Cà Mau: giả làm Thầy Trò nói “rõ việc dẫy đầy lao lý về sau” để cho “trần hạ biết vào đường tu”.(chặng cuối của thủy lộ)

- Tỉnh Gò Công: từ Cà Mau, Đức Thầy đằng vân đến đây, giả làm Thầy Tớ vừa hát vừa đờn dạy dỗ khắp nơi.

- Chợ Bà Rịa: Thầy Tớ hóa hiện thành mười, bán thuốc Sơn Đông nhưng ca hát những lời thức tỉnh người đời lo tu niệm.

- Biên Hòa: giả làm Thầy Tớ dạy khuyên bá tánh tu hành.

- Tân An: (thuộc tỉnh Long An) ghé lại thời gian ngắn, tiếp tục dạy dỗ người đời rồi đi ngay.

- Tây Ninh: lại ra sức rao giảng ai có nghe không cũng mặc.

- Dầu Một: (tức Thủ Dầu Một) là địa đìểm cuối của chuyến dạo Lục Châu. Đức Thầy vẫn hết sức giảng dạy nhưng người hung ác thì vẫn quá nhiều.

            Tóm lại, Đức Thầy đã chu du khắp Lục tỉnh Nam kỳ (thời Pháp thuộc) và hóa hiện nhiều hình thái khác nhau để thử lòng trăm họ, giác tỉnh mọi người, gọi họ về đường ngay, nẻo Đạo là chuyện có thật do chính Ngài thuật lại và có nhiều nhơn chứng sống. Chẳng hạn như Ông Cựu Hương chánh Cao văn Viết (hay Khiết) ở thôn Bình Thạnh Đông (Châu Đốc), anh Tôi ở Hòa Hảo, Cô Lê thị Cứng tức Tư Cứng ở gần nhà Đức Thầy, Ông Tài công Hợi ở Hòa Hảo, Ông Lê văn Hẳng tức Năm Hẳng ở thôn Kiến An (Chợ Mới)…   

          Cuối cùng, Đức Thầy với hồng danh là Kim Sơn Phật đã từng ngự tòa sen báu ở Tây Phương Cực Lạc nhưng vì thừa vưng Sắc lịnh của Phật Trời nên phải len lỏi xuống trần để cứu vớt chúng sanh trong thời kỳ Hạ nguơn mạt pháp. Và cũng chính vì Ngài là cổ Phật nên cũng có đủ Tam thân (Pháp thân, Báo thân và Hóa thân) như bao nhiêu vị Phật khác vậy./.

 

Nam mô A Di Đà Phật !

Comments