2012/05/12 - Góp ý về bài LỤY TAM CHÂU

Góp ý về bài LỤY TAM CHÂU

 

  Kính thưa chư Quý đồng đạo,

          Ngoài 5 quyển Sấm Giảng bằng văn vần và quyển thứ Sáu (Tôn chỉ Hành đạo) bằng văn xuôi, Đức Thầy còn để lại cho chúng ta trên 200 bài thơ  (Bài dài nhất là “Để chơn đất Bắc” gồm 314 câu và ngắn nhất là 4 câu, thường là bài đáp họa) với nhiều thể tài, thể loại khác nhau như Lục bát, Song thất Lục bát, Ngũ ngôn, Thất ngôn trường thiên, Đường luật…mà người tín đồ PGHH gọi chung là Thi Văn Giáo Lý.

Hầu hết các bài Thi Văn Giáo Lý đều được Đức Thầy viết bằng chữ Quốc ngữ rất dễ đọc và tương đối dễ hiểu. Tuy nhiên, trong phần này lại có một số bài mà nhiều đồng đạo gọi là HÁN THI do Đức Thầy sáng tác và đáp họa với các bậc túc Nho, có phần khó hiểu.

Bởi vì phần lớn những từ ngữ đuợc sử dụng trong các bài HÁN THI đều là từ Hán-Việt (có xen chút ít chữ Nôm), do đó nếu muốn tìm hiểu ý nghĩa cho thấu đáo, người đọc cần phải có một số kiến thức rộng rãi về chữ Hán (còn gọi là chữ Nho).

Tuy nhiên, vì là âm Việt, gốc Hán nên rất dễ bị nhầm lẫn có thể làm lệch lạc ý tưởng của Đức Thầy trong quá trình chú giải. Như chúng ta đã biết câu “Nhứt tự lục nghì” có nghĩa là một chữ Hán có đến sáu nghĩa khác nhau. Vì vậy, cũng một câu thơ trong cùng một bài HÁN THI nhưng khi làm công việc chú giải thì mỗi người giải thích theo sự hiểu biết riêng của mình nên đôi khi nghịch ý lẫn nhau, có thể gây những khó khăn và thắc mắc cho hàng hậu bối.

Sau đây, căn cứ vào lời Thuyết giảng của Ông Lê văn Phú tự Tho (qua băng Cassettes, trước năm 1975) và Tài liệu của Đồng đạo Nguyễn Văn Chơn (đang lưu hành nội bộ) để thấy sự giải thích bài LỤY TAM CHÂU thế nào cũng như để chứng minh cho sự khác biệt vì sự hiểu biết khác nhau giữa hai người.

Trước hết, bài “LỤY TAM CHÂU” được Đức Thầy viết tại Hòa Hảo tháng 8 năm Kỷ Mão, nội dung toàn bài như sau:

                         “Tam châu hữu ngạn lụy nhỏ sa,

Thập bát chư bang động can qua.

Dương gian mãnh thú trừ tàn ác,

Lê thứ hậu lai khổ thiết tha.

                                                  *

                                                *   *

Tần bang hậu hận tiên diêu động,

Nam quốc lương dân kiến linh xa.

Phồn hoa đô hội lưu giang huyết,

Dư đảng dọc ngang cấp ma-ha.”

Bài thơ này theo thể tài Thiên Cơ, thể thơ Đường luật, thất ngôn bát cú, luật bằng, vần bằng. (Tuy nhiên, vì bài thơ được chia làm hai khổ riêng biệt nên có thể gọi là Thất ngôn tứ tuyệt).

Đề bài “LỤY TAM CHÂU”: LỤY (còn đọc là LỆ) nghĩa là nước mắt. TAM CHÂU là ba châu. LỤY TAM CHÂU có nghĩa là LỆ ĐỔ Ở BA CHÂU.

Câu I: - TAM CHÂU HỮU NGẠN LỤY NHỎ SA.

- Ông Lê Văn Phú tự Tho giải thích: TAM CHÂU là Á châu, Âu châu và Phi châu có bờ, có mé với nhau nên gọi là HỮU NGẠN (Hữu là có, Ngạn là bờ, mé). Trong Đệ I Thế chiến (1914-1918), ba Châu này xảy ra giặc giã khắp nơi, giết chết trên 8 triệu mạng người, gây bao cảnh ly tan, tang tóc, nước mắt chan hòa…thế nên “LỤY NHỎ SA” là vì vậy.

- Còn Ông Nguyễn Văn Chơn chú giải: TAM CHÂU là Châu Đốc, Châu Phú và Phú Châu. (xã Phú Châu nằm trong huyện Châu Phú). HỮU NGẠN (Hữu là bên phải, Ngạn là bờ sông) là bờ sông phía bên tay phải, tính từ thượng nguồn nhìn xưống. LỤY NHỎ SA là do nạn chiến tranh giặc giã hay khổ cực liên tiếp xảy ra nên nước mắt tuôn đổ từng dòng.

Ngay ở câu I, chúng ta đã thấy có sự giải thích khác biệt. Thật ra trong Hán tự, âm HỮU có nhiều cách viết khác nhau, dĩ nhiên có nhiều nghĩa khác nhau nên có sự nhầm lẫn như vậy.

HỮU nghĩa là CÓ, trái với VÔ là không. (như Hữu Tình trái với Vô Tình, Hữu Thần trái với Vô Thần …)

HỮU nghĩa là bên PHẢI, đối với TẢ là bên TRÁI.(như bên này là Hữu ngạn còn bên kia là Tả ngạn sông Tiền…)

HỮU còn có nghĩa là BẠN. (như Bằng Hữu 朋 友 là bạn bè…)

HỮU  là giúp đỡ….

Sở dĩ Ông Nguyễn Văn Chơn xác định TAM CHÂU như đã ghi trên, vì căn cứ vào mẩu chuyện sau đây:

“Trong dịp dẫn Đức Ông đi viếng núi Tà Lơn, khi về đến Châu Đốc để qua phà Tân Châu về Hòa Hảo, Đức Thầy lấy tay chỉ và bảo rằng: Sau nầy phía hữu ngạn kể từ thượng nguồn Châu Đốc về Tiền giang, sẽ bị ảnh hưởng bởi nạn Tần khởi. Vị trí Tần khởi lan tới ba Châu.

Có thuyết nói rằng: Đức Thầy dẫn Ông Ngô Thành Bá (tức Biện Đài) khi xuống núi về lại Tân Châu, xuống phà Châu Đốc, Đức Thầy hỏi ông Đài: Sau nầy Tần khởi ở “Tam Châu” vậy ông có biết Tam Châu là Châu nào không? Ông Đài trả lời:

- Thưa Thầy, Tam Châu là Châu Đốc, Châu Giang và Châu Phú.

Đức Thầy bảo: Tôi nói “Tam Châu” nằm ở phía hữu ngạn, còn Châu Giang là ở tả ngạn. (theo quyển Chú Giải Thi Văn Giáo Lý, Phần 1 của Nguyễn văn Chơn, trang 256).

Câu II: - THẬP BÁT CHƯ BANG ĐỘNG CAN QUA:

Khi chú giải câu này, Ông Nguyễn Văn Chơn cho rằng: Sau nầy tại Châu Đốc, Châu Phú…sẽ xảy ra chiến tranh do 18 nước khởi binh.

THẬP BÁT CHƯ BANG có nghĩa Tất cả là 18 nước.

ĐỘNG CAN QUA là hai bên đánh nhau, khởi sự việc chiến tranh giữa các nước. (Động: Khởi sự. Can Qua: Can là cái mộc (thứ binh khí dùng để đỡ mũi gươm, giáo, tên…) Qua là cái giáo. Can qua là tiếng nói chung để chỉ cho các loại binh khí, tức là nói đến sự chiến tranh.

Câu III: DƯƠNG GIAN MÃNH THÚ TRỪ TÀN ÁC:

DƯƠNG GIAN: Cõi dương. Chỉ cõi thế gian, nơi chúng ta đang sinh sống.

MÃNH THÚ: Loài vật mạnh mẽ, hung tợn. Ám chỉ những hạng người hay các quốc gia hùng mạnh thường khởi binh chinh phục nước ngoài, gây cảnh chiến tranh khốc liệt.

Câu này được Ông Chơn giải thích như sau: Loại trừ con người, hay các quốc gia hung hăng tàn bạo ví như loài vật hung tợn.

Câu IV: LÊ THỨ HẬU LAI KHỔ THIẾT THA:

LÊ THỨ: là dân đen. Thứ là hạng, lớp. LÊ THỨ là những người dân thuộc hạng nghèo khó đang sống trong quả địa cầu.

HẬU LAI KHỔ: Hậu là sau. Lai là lại. Khổ là vất vả, khó nhọc.

THIẾT THA: Thiết là cắt. Tha là mài. Chỉ sự đau đớn liên tục.

Câu IV nghĩa là những người dân nghèo khó, sau nầy sẽ gặp nhiều cảnh gian nan, vất vả.

Câu V: TẦN BANG HẬU HẬN TIÊN DIÊU ĐỘNG:

TẦN BANG: là Nước Tần. Ở đây ám chỉ nước Cao Miên, một quốc gia có biên giới giáp với Việt Nam. (Người Trung Hoa xưa gọi Cao Miên là Tần).

HẬU HẬN: Hậu là sau. Hận là giận. Nghĩa là mối thù hận sâu đậm kéo dài trong lòng.

TIÊN DIÊU ĐỘNG: Tiên là trước. Diêu động là cố ý khởi sự, gây hấn. Tiên diêu động là chủ động khởi sự, gây hấn trước hết.

Ý nghĩa câu V là Nước Tần (tức Cao Miên) vì mối hận lâu ngày nên khởi sự chiến tranh trước hết.

Câu VI: NAM QUỐC LƯƠNG DÂN KIẾN LINH XA:

NAM QUỐC: Nước Việt Nam.

LƯƠNG DÂN: Người dân hiền lành.

KIẾN LINH XA: Kiến là thấy, gặp gỡ. Linh xa là xe tang, xe chở người chết. Chứng kiến tận mắt cảnh chết chóc do chiến tranh gây ra.

Đại ý câu VI cho biết nước Việt Nam sau nầy bị Cao Miên khởi động chiến tranh nên dân chúng phải chịu cảnh tang thương khắp chốn.

 Câu VII: PHỒN HOA ĐÔ HỘI LƯU GIANG HUYẾT:

PHỒN HOA: Phồn là nhiều, thịnh vượng. Hoa là rực rỡ. Chỉ nơi đô hội có đông người sinh sống.

ĐÔ HỘI: Nơi có đông người tới lui buôn bán.

LƯU GIANG HUYẾT: Lưu là chảy. Giang huyết là sông máu. Do chiến tranh ác liệt làm chết nhiều người nên máu chảy thành sông.

Đại ý câu VII là nơi chốn phồn hoa đô hội sau nầy sẽ ảnh hưởng bởi chiến tranh, giặc giã khiến cho người ta chết đông vô số, ví như máu chảy thành sông.

Câu VIII: DƯ ĐẢNG DỌC NGANG CẤP MA HA:

DƯ ĐẢNG: Một nhóm người có chung mục đích, một tổ chức hay đoàn thể v.v…

NGANG DỌC: (do chữ Tung Hoành) nghĩa là xuôi ngược khắp nơi, tung hoành bốn biển.

CẤP: Gấp, mau.

MA HA: (do Phạn ngữ là Mâha) nghĩa là rộng lớn, còn có nghĩa là Đại đạo.

ĐẠI Ý TOÀN BÀI: Sau nầy tại Châu Đốc, Châu Phú, Phú Châu (1) sẽ xảy ra chiến tranh do 18 nước vì tham báu mà gây nên. Cao Miên và Việt Nam cùng chịu ảnh hưởng mà trước tiên là Tần quốc, sau đó đến Việt Nam. Lúc bấy giờ người hung ác mới chịu quày đầu hướng thiện. (theo chú giải của Ông Chơn).

Rõ ràng, Ông Nguyễn Văn Chơn thì cho rằng bài HÁN THI này thuộc loại Tiên Tri, Đức Thầy viết bài này để tiên đoán (tương lai) cuộc chiến tranh tàn khốc giữa Việt Nam và 18 nước trên thế giới, do tranh giành đền vàng, điện ngọc và châu báu tại miền Thất sơn mà gây nên.

Trong khi đó, Ông Lê văn Phú lại cho rằng bài Lụy Tam Châu nhằm đề cập đến cuộc Đệ I thế chiến cách nay gần 100 năm trước (quá khứ).

Nhìn chung, do sự hiểu biết riêng của từng cá nhơn nên khi giải thích những bài HÁN THI (hoặc những bài thơ khác của Đức Thầy) chắc chắn sẽ có ý tưởng khác nhau, không nhiều thì ít.

Chằng hạn như chữ “HÀ TIÊN” trong bài Thiên Lý Ca:

“Cuối năm Thìn sẽ lo vận chuyển,

 Xứ “Hà tiên” linh hiển cơ quan.”

          Trong tài liệu của Cố Đồng đạo Bùi văn Ưởng (Bút hiệu Thiện Tâm) thì chú giải: HÀ là sông. TIÊN là trước. HÀ TIÊN có nghĩa là con sông phía trước mặt Tổ đình, tức chỉ con sông Tiền (Tiền giang). Vậy mà có ngưởi giải rằng HÀ TIÊN là 1 địa danh, giáp tỉnh Kiên Giang (Rạch Giá) nằm sát biên giới Việt Miên, nơi có Thạch động, hòn Phụ tử…

Ngay cả cố Giảng viên Lê văn Phú còn cho rằng HÀ TIÊN là nói lái từ chữ HIỀN TA.  Do đó “Xứ Hà Tiên” được giải thích thành “Xứ Hiền Ta” tức chỉ cho xứ Nam kỳ Lục tỉnh (gồm các Tỉnh miền Tây Nam Việt sau này), đa số là người HIỀN nên sự biến thiên sẽ xảy ra nơi đây và người biết tu hành chắc chắn được nhiều ân phước.

Ông Thiện Tâm trong quyển “Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ Chú giải” (Quyển Hạ, tập 1) có kể lại cuộc đối đáp giữa Đức Thầy và Ông Mười về ý nghĩa của chữ HÀ TIÊN như sau:

Năm 1939, nước lớn lúa ngoài đồng bị ngập lụt. Con đường trước của Tổ Đình nước ngập tràn qua lộ. Ông Mười (một Đông y sĩ) từ nhà chợ Mỹ Lương đi xuống. Khi gần tới cửa Tổ Đình, Đức Thầy đứng sẵn tại đó đợi ông Mười đi gần tới, Ngài chấp tay vái chào rồi hỏi:

          - Nghe ông Mười thông suốt chữ Hán, hôm nay xin phép ông cho tôi hỏi một vài chữ được chăng?

          Ông Mười cười đáp:

          - Muốn hỏi gì thì cứ hỏi, chớ xin phép xin tắc gì cậu! (Lúc đó ông Mười chưa qui y, nên mới xưng hô với Ngài như vậy.)

          Đức Thầy hỏi tiếp:

          - Hà Tiên là gì ông Mười?

          - Việc đó dễ ợt, có gì khó đâu mà cũng hỏi. Hà Tiên là một trong 20 tỉnh Nam Kỳ của mình; nằm phía trên Rạch Gía, giáp biên giới Miên Việt, nơi ấy có lăng Mạc Cửu và nhiều cảnh đẹp như Thạch Động, Đá Dựng, Mũi Nai.

          Đức Thầy vừa cười vừa nói:

          - Ông giải nghĩa không đúng rồi ông Mười ơi!

          - Cậu nói sao? Theo cậu Hà Tiên có nghĩa như thế nào?

          - Ông chịu thua đi tôi sẽ giải nghĩa cho nghe!

          - Thì chịu thua đó, cậu giải đi, nếu giải không đúng lý thì không được với tôi nghe!

          Bấy giờ nước ngập sát mé đường, Đức Thầy liền ngồi xuống vừa lấy tay khoát nước vừa nói:

          - Hà là sông, Tiên là trước. Nói chung hai chữ Hà Tiên là sông trước, tức là sông Tiền Giang trước mặt mình đây. Còn sông bên kia (sau lưng) là sông Hậu Giang. Có thế mà ông không hiểu lại trả lời là tỉnh Hà Tiên làm sao đúng với câu hỏi của tôi.

          Đức Thầy giải xong, ông Mười và mọi người nghe từ đầu tới giờ đều thì thầm bàn tán:

          - Ý phàm sao bằng ý Phật!

          Tóm lại chữ Hà Tiên mà Đức Thầy dùng trong câu giảng “Xứ Hà Tiên linh hiển cơ quan”, có nghĩa là sông trước (Tiền Giang).

Riêng về chữ THẬP BÁT CHƯ BANG tức là 18 nước khắp nơi trên thế giới, chúng ta nghe nói rất nhiều về 18 nước này sẽ vào Việt Nam để tranh giành châu báu, nhưng khi được hỏi 18 nước ấy gồm những nước nào thì gần như ít ai kể ra được.

Nhân đây, chúng tôi xin căn cứ vào ĐỒ THƯ - Lời nói ĐỨC PHẬT BỔN SƯ - (Tử Vi Thiên Số 1840) mạn phép ghi ra tên 18 nước như sau:

1/- Anh.                                10/- Na Uy.

2/- Pháp.                               11/- Ba Lan.

3/- Mỹ.                                  12/- Mể Tây Cơ.

4/- Úc Đại Lợi.                        13/-Trung Hoa.

5/- Tân Tây Lan.                     14/- Do Thái.

6/- Đức.                                 15/- Á Căn Đình.

7- Gia Nã Đại.                        16/- Nam Dương.

8/- Ý Đại lợi.                           17/-  Nhật.

9/- Nga.                                 18/- Việt Nam (sau nầy đổi là Đại Nam Quốc)

Quý đồng đạo nào có Tài liệu khác kể rõ tên 18 nước này, xin vui lòng phổ biến cho mọi người cùng biết, thành thật cám ơn.

Đến câu cuối cùng: DƯ ĐẢNG DỌC NGANG CẤP MA HA. Ông Nguyễn Văn Chơn giải thích: Lúc bấy giờ người hung ác mới chịu quay đầu hướng thiện.

Gần đây, có người góp ý về câu này như sau: DƯ ĐẢNG nghĩa là Đảng còn thừa ra, còn sót lại. DỌC NGANG là nét dọc và nét ngang, hai nét này hợp thành dấu cộng (+). Do đó DƯ ĐẢNG DỌC NGANG có nghĩa là Đảng Cộng còn sót lại (chẳng hạn như Đảng Cộng sản ờ Trung qưốc, Việt Nam, Cu Ba, Bắc Hàn…) sẽ CẤP MA HA (tức là nhanh chóng quay về Phật Đạo).

Tóm lại, những bài HÁN THI của Đức Thầy rất khó để giải thích với nhiều lý do. Do đó, từ trước tới nay có rất ít người để tâm nghiên cứu và tìm hiểu.

          Hôm nay, chúng tôi đưa ra một số dẫn chứng cụ thể về quá trình chú giải bài LỤY TAM CHÂU để thấy có sự khác nhau về ý tưởng mà cho đến hiện thời vẫn chưa biết ai sai, ai đúng. Vì vậy đã có người ví von rằng chúng ta muốn chia sẻ Giáo lý của Đức Thầy chẳng khác nào những kẻ mù rờ voi. Cùng một con voi, nhưng có người cho rằng đây là cột nhà, còn người khác cho rằng đó là cây chổi hay cái quạt…Tuy nhiên, dù cho là “mù đi đêm” chúng tôi cũng nguyện sẽ đem tài hèn, sức mọn cùng với chư quý vị để làm sao cho Giáo lý PGHH được ngày thêm sáng tỏ, mang lại lợi lạc cho mọi người. Đồng thời, cũng là dịp để tuân thủ ý chỉ của Đức Thầy:

“Lời truyền sấm như bài toán đố,

  Ai biết tầm thì được hưởng nhờ.”

(Q.4, Giác Mê TK)

Kính mong chư quý Đồng đạo đóng góp thêm về những kinh nghiệm trong việc tìm hiểu Giáo lý của Đức Thầy để cùng nhau tinh tấn trên bước đường Tu học.

Thành kính tri ân tất cả quý Đồng đạo.

________________________________________

Chú thích (1)


Đây là câu chuyện thứ 48. Về luỵ tam châu mà Ô.Huỳnh Hữu Phỉ nghe và thuật lại trong tác phẩm Châu Ngọc Ngôn của cụ:

Năm 1940, vào tháng giêng. Đức Thầy có đến nhà tôi và nghỉ một đêm. Lúc đó có một nhà nho là ông ba Thận ở xã Phú Lâm có đến chơi và xin Thầy giải rõ bài “Tam châu hữu ngạn luỵ nhỏ sa”. Ông ấy viết chữ Châu Đốc, Châu Giang và Tân Châu bằng chữ Hán. Đức Thầy chỉnh lại nói: không phải chữ “Châu” đó ông ba ơi! (Châu có 2 chữ: Châu là doi và châu là đỏ). Ông Ba viết chữ châu là doi nên Thầy sửa lại. Ông Ba viết lạo: Châu Đốc, Châu Phú, Châu Giang. Thầy nói: Cũng chưa đúng, vì tôi nói Tam châu hữu ngạn, còn Châu Giang là tả ngạn. Ông Ba nói: Như vầy còn châu nào nữa? Thầy mới nói: tỉnh Châu Đốc, huyện Châu Phú, xã Châu Phú. Ông Ba nói: Vầy mới đúng Tam châu.

Tôi hỏi Thầy câu:

“Phồn hoa đô hội lưu giang huyết,

Du đảng dọc ngang cấp ma ha.”

Là sao? Thầy đáp:

Nơi phồn hoa đô hội máu chảy thành sông, lúc ấy  đám côn đồ du đảng bay hồn mất vía, mới lo tu  .

Thầy nói thêm: Giai đoạn đầu khi gặp giặc Miên tràn xuống, mình núng thế, nhưng sau đó mình phản công lại, mới đuổi nó thẳng về trển.

Như Đức Thầy đã nói, Tam Châu tức là: tỉnh Châu Đốc, huyện Châu Phú, xã Châu Phú.

Như vậy không có từ Phú Châu.

Căn cứ theo địa hình hiện tại (năm 2013) thì:

tỉnh Châu Đốc, huyện Châu Phú, xã Châu Phú (xưa), ngày nay đều thuộc tỉnh An Giang.

Tỉnh Châu Đốc nay là Thị xã Châu Đốc.

Huyện Châu Phú nay cũng là huyện Châu Phú.

Xã Châu Phú nay chia làm 2 là Phường Châu Phú A và Phường Châu Phú B thuộc Thị xã Châu Đốc.

Xin chân thành cám ơn đồng đạo có Nickname “Kẻ Chèo Đò Dốt Nát” đã góp ý và cung cấp cho Tài liệu quý báu nầy.


Comments