2012/05/14 - Đọc lại bài Hán Thi của Ô.Chín Diệm

Đọc lại bài Hán Thi của Ông Chín Diệm

 

Trong hàng trăm bài Thi Hán mà Đức Thầy sáng tác trong suốt thời gian hành Đạo (1939-1947), chúng tôi nhận thấy có bài thơ Xướng, Họa giữa Đức Thầy và Ông Chín Diệm là được nhắc nhở nhiều hơn hết.

Những tài liệu có dẫn giải bài Thi Hán lịch sử nầy là các quyển:“Thất Sơn mầu nhiệm” của Dật Sĩ và Nguyễn văn Hầu, “Đức Huỳnh Giáo Chủ” của Vương Kim, “Phật Giáo Hòa Hảo trong dòng Lịch sử Dân tộc” của Nguyễn Long Thành Nam, “Từ Điển Đặc Dụng”, Quyển Trung (Phần II) của Nguyễn văn Chơn, “Chú Giải Thi Văn Giáo Lý”, Quyển Thượng (Tập II) của Thiện Tâm Bùi văn Ưởng. Đặc biệt, Giảng viên Lê văn Phú tự Tho trong những lần đi thuyết giảng Giáo lý PGHH khắp các tỉnh miền Tây (trước năm 1975) cũng đã giảng giải bài  Hán Thi nầy rất nhiều lần trước hàng chục ngàn thính chúng. 

Được biết Ông Chín Diệm tộc danh Nguyễn Kỳ Trân, người làng Định Yên, quận Lấp Vò, tỉnh Long Xuyên. (Nay là xã Định Yên, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp). Vốn là một bực túc Nho đầy lòng ưu ái với quê hương, đất nước (mặc dù ông mang bệnh mù mắt). Đang sống dưới thời Pháp thuộc, Ông lại nghe thấy Đức Thầy mở Đạo, đem mùi Tôn giáo khuyến dụ nhơn sanh sợ làm lợi cho bọn xâm lăng thống trị nên lấy làm băn khoăn khó hiểu. Ông làm bài Hán Thi nầy là để muốn biết tâm ý của Đức Thầy thế nào trước hiện tình đất nước.

Theo lời Ông Lê văn Phú tự Tho kể lại thì Ông Chín Diệm làm sẵn hai bài Hán Thi từ Định Yên muốn lên Hòa Hảo để thử tài Đức Thầy (muốn so tài thì đúng hơn) vì biết Ngài mới học xong bậc Tiểu học thì làm sao mà biết Hán Văn để làm thi đối đáp. Thế là Ông cùng một phái đoàn lên Hòa Hảo để gặp Đức Thầy. Nhưng khi đến nơi thì hay tin Đức Thầy đã đi thăm làng Mỹ Hội Đông từ hôm trước. Tức thì, Ông cùng mọi người vội bao đò qua Mỹ Hội Đông để quyết gặp cho được Đức Thầy.

Khi phái đoàn vừa cặp bến đang lên bờ thì Đức Thầy từ lan can nhà của một tín đồ, lên tiếng:“Tôi cám ơn bà con ở Định Yên đến thăm tôi, đông quá!” Trong khi mọi người còn đang ngơ ngác thì Đức Thầy nói tiếp:“Ông Chín ơi! Có ông tháp tùng nữa phải không? Có người cho tôi biết là Ông có hai bài thơ chữ Hán hay lắm. Đây nè, tôi cũng vừa viết hai bài thơ, ông vô kỉnh lễ Tam Bảo rồi tôi đưa cho Ông coi.” Ông Chín sau khi nghe lời Đức Thầy, làm lễ Tam Bảo xong liền cầm hai bài thơ mà Đức Thầy vừa đưa, đi ra ngoài nhờ người thân đọc dùm. Sau khi nghe đọc xong hai bài thơ, Ông Chín vội vàng nhờ người đó đắt Ông vào nhà nơi Đức Thầy đang thuyết pháp quỳ xuống dưới chơn Ngài, lạy “tam thiên vong mạng”…Bấy giờ Ông Chín như cái máy, Đức Thầy bảo thế nào thì Ông làm như thế nấy, không dám cãi (mặc dù, tuổi tác của Đức Thầy lúc ấy chỉ bằng tuổi của cháu Ông).

Sau đây chúng tôi xin phép giới thiệu lại một trong hai bài thơ nói trên. Trước hết là nguyên tác bài thơ của Ông Chín Diệm xướng:

                  

“Cường khấu xâm lăng kỷ thập niên

                

Vị   tri   đại   đức   giáng  hà  tiên ?

           

Hi   Di   ngũ   quí  kim  an   tại

                     

Thái Thượng tam vương cổ bất truyền.

         

Độc nhãn Sa  Đà  tàng  Bắc  địa,

          

Liên mi chơn mạng ẩn Nam thiên.

                

Phòng ngư xích vĩ đương kim nhựt,

           

Dẫn lãnh minh lương trứ Tổ tiên.”

 

Bài thi nầy viết theo lối văn vần, thể Thất ngôn Bát cú Đường luật, vận Trắc, vần Bằng, tiếng Việt, gốc Hán (nên còn gọi là thơ Hán-Việt). Căn cứ vào bài đáp họa của Đức Thầy thì bài nầy có lẽ được Ông Chín viết vào tháng Giêng năm Canh Thìn (1940).
                             Sau đây là phần chú thích từ ngữ:

CƯỜNG KHẤU: Cường: Mạnh mẽ. Khấu: Nổi loạn, cướp giựt. Nghĩa rộng: Quân cướp của giết người.

XÂM LĂNG: Chiếm lấy, chiếm đóng.

KỶ THẬP NIÊN: Kỷ: Mấy. Thập niên: Mười năm.

   Câu 1: Ý nói quân Pháp chiếm đóng Việt Nam đã mấy mươi năm nay.

VỊ TRI ĐẠI ĐỨC: Vi tri: Chưa biết. Đại Đức: Người có tào cao, đức trọng. Chưa biết Ngài là bậc Tiên Thánh nào.

GIÁNG HÀ TIÊN: Giáng: Xuống, nghĩa bóng là lâm phàm. Hà: từ dùng để hỏi. Vị Tiên nào xuống trần?

Câu 2: Chưa biết Ngài là vị Tiên nào lâm phàm?

        HI DI NGŨ QUÍ: Hi Di là danh hiệu của Trần Đoàn (907-959), một vị Tiên ở núi Hoa Sơn (Trung Hoa). Ngũ Quí còn gọi Ngũ Bá, tên của năm Triều đại bên Trung Hoa: Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Tống Vương Công, Tần Mục Công và Sở Trang Công. Theo ông Lê văn Phú tự Tho, Ngũ Quí tức là Ngũ Đại chỉ năm đời Vua sau khi nhà Đường sụp đổ, đó là: Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán và Hậu Chu.            

KIM AN TẠI: Kim: Hiện nay. An: Yên ổn. Tại: Ở, còn. Hiện giờ còn ở tại đó.

Câu 3: Có phải Ngài là Trần Đoàn thời Ngũ Quí trở lại.

THÁI THƯỢNG TAM VƯƠNG: Thái Thượng tức Thái Thượng Lão Quân, tự là Hồng Quân Lão Tổ. Tam Vương là Thành thang Vương, Châu văn Vương và Châu võ Vương.

CỔ BẤT TRUYỀN: Cổ: Xưa. Bất: Không. Truyền: Trao lại từ người nầy sang người kia, thế hệ nầy sang thế hệ khác. Nghĩa rộng: Không còn noi dấu.

        Câu 4: Kể từ ba đời Vua sau cùng của nhà Châu thì Thái Thượng Lão Quân không còn truyền dạy cho ai nữa.

ĐỘC NHÃN SA ĐÀ: Độc Nhãn (nghĩa đen: một mắt) là biệt hiệu của Lý Khắc Dụng đời nhà Đường bên Trung Hoa. Chỉ sáng có một con mắt nhưng có tài “bách chiến bách thắng” (nên người đời gọi là Độc Nhãn Long: rồng một mắt). Sa Đà là lún sâu, vấp ngã. (Ông Lê văn Phú tự Tho giải thích Sa Đà là địa danh chỉ xứ sở của Lý Khắc Dụng, còn Ông Chơn thì cho là tên chữ của Lý Khắc Dụng).

TÀNG BẮC ĐỊA:  Tàng: Ẩn giấu. Bắc địa: Đất Bắc. Nghĩa rộng: Còn ẩn danh nơi đất Bắc.

Câu 5: Lý Khắc Dụng để lở cơ hội nên đành ẩn danh nơi đất Bắc.

LIÊN MI CHƠN MẠNG: Liên mi: chơn mày liền nhau, chỉ cho Triệu Khuông Dẫn (vì Ông nầy có đôi chơn mày dính liền nhau, khác với người thường). Chơn mạng chỉ cho người có mạng Đế vương.

ẨN NAM THIÊN: Ẩn: Che giấu. Nam thiên: Trời Nam. Nghĩa rộng: Còn ẩn lánh nơi trời Nam .

Câu 6: Triệu Khuông Dẫn vốn là chơn mạng Đế Vương vẫn còn ẩn danh ở trời Nam .

PHÒNG NGƯ XÍCH VĨ: Phòng ngư: Cá phòng. Xích vĩ: Đuôi đỏ. Ám chỉ lá cờ Tam sắc của Thực dân Pháp.

ĐƯƠNG KIM NHỰT: Đương: Đang, hiện thời. Kim nhựt: Ngày nay. Hiện thời đang còn đây.

   Câu 7: Hiện thời lá cờ Tam sắc của bọn Pháp đang còn ở Việt Nam.

   DẪN LÃNH: Dẫn:trương cung lên. Lãnh: Nhận làm một việc gì. Nghĩa bóng: Phải hành động khi cần thiết.

   MINH LƯƠNG: Minh: Sáng suốt. Lương: Hiền lành. Ông Vua sáng suốt, tài ba (từ câu “Minh quân Lương tướng”)

   TRỨ TỔ TIÊN: Trứ là rõ rệt. Tổ là người khai sanh dòng họ hay môn phái. Tiên là cây roi (lấy roi mà quất)

    Câu 8: Nếu Ngài là bậc minh triết (hay bậc Minh quân lương tướng), hãy đả cho nó một cây roi thần.

                                    Đại Ý toàn bài thi vấn của Ông Chín Diệm:

          Giặc Pháp đã chiếm Việt Nam mấy mươi năm, chưa biết Ngài là vị Tiên nào lâm phàm? Chứ ngày nay những bậc Tiên như Trần Hi Di, Triệu Khuông Dẫn…, đều ẩn khuất cả đất Bắc trời Nam. Chỉ thấy bọn Pháp khắp nơi trên đất nước Việt Nam. Nếu phải là bậc minh triết thì xin Ngài hãy đả cho nó một cây roi thần.

          Sau đây là bài Thi Hán đáp họa của Đức Thầy. Ngài viết bài nầy tại Mỹ Hội Đông (Long Xuyên), sáng ngày 23 tháng 01 năm Canh Thìn (1940). Bài nầy cũng viết theo lối văn vần, thể Thất ngôn Bát cú Đường luật, tiếng Việt, gốc Hán. Toàn văn bài thi như thế nầy:

           

Thiên ký Lạc-Hồng đắc ngũ niên,

    

Sơn-Trung hồi giả bí danh tiên.

    
Trần-nhơn đãi thế Nam tồn tại,

               
Lão đạo tiền phong Bắc ý truyền.

        

Trình mỗ ngộ kim khuê Cổ địa,

       

Xích mi hải hội luật trừng thiên.

 

Vị phi minh đế đồ tôn nhựt,

         

Thạnh khí đào thinh giác kỷ tiên.

Chú thích Từ ngữ:

THIÊN KÝ: Thiên: Trời. Ký: Ghi lại. Trời định như vậy.

        LẠC HỒNG: tức là Hồng Lạc và Hồng Bàng.(Tổ tiên của người Việt Nam). Ở đây chỉ nước Việt Nam.

ĐẮC NGŨ NIÊN: Được, đến 5 năm.

Câu 1: Trời định dân Việt Nam còn phải chịu một thời gian nữa (ý nói 5 năm). Kể từ năm Canh Thìn (1940) đến năm Ất Dậu (1945), Nhật hất chân Pháp ra khỏi Đông Dương. Vì thế, Đức Thầy trả lời ông Chín Diệm là 5 năm.

SƠN TRUNG: Danh từ riêng, ám chỉ Hệ phái Bửu Sơn Kỳ Hương.

HỒI GIẢ: Hồi: Trở lại. Giả: Người. Người trở lại. Ý nói Đức Thầy chuyển kiếp, thừa kế vĩ nghiệp cứu thế độ đời của Đức Phật Thầy Tây An.

BÍ DANH TIÊN:  Bí: Kín đáo. Danh Tiên: Tộc danh của một vị Tiên. Tên của một vị đã Giác ngộ nhưng không thể tiết lộ.

Câu 2: Ta là người ở trong Hệ phái BSKH trở lại nhưng không thể nói rõ họ tên.

TRẦN NHƠN ĐÃI THẾ: Trần Đoàn còn ẩn nhẫn chờ thời vận.

NAM TỒN TẠI: Hiện còn ở tại miền Nam .

Câu 3: Ta ẩn nhẫn chờ thời ở miền Nam cũng giống như Trần Hi Di Lão Tổ.

LÃO ĐẠO TIỀN PHONG: Đạo Lão trước kia rất thạnh hành.

BẮC Ý TRUYỀN: Truyền rao khắp phương Bắc (ám chỉ Trung Hoa).

Câu 4: Đạo Lão ở Trung Hoa vẫn còn truyền tụng cho đến bây giờ.

TRÌNH MỖ NGỘ KIM: Trình: tức cụ Trạng Trình. Mỗ: tiếng dùng để tự xưng như Tôi, Ta...Ngộ: Gặp. Kim: Hiện nay. Hiện thời Ta là Trạng Trình.

KHUÊ: Cửa nhỏ trong Cung. Nghĩa rộng: Nơi chốn. 
CỔ ĐỊA: Đất xưa, tức làng Cổ Am, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương. Nguyên quán của Trạng Trình. 

Câu 5: Ta là Trạng Trình tại làng Cổ Am, hiện nay đã trở lại.

XÍCH MI HẢI HỘI: Xích Mi Lão Tổ mở phiên họp lớn có nhiều người than dự, rộng lớn  như biển cả mới chứa được hết.

        LUẬT TRỪNG THIÊN: Luật của Trời dùng để trừng trị những người phạm tội.

Câu 6: Xích Mi Lão Tổ mở Đại hội Công đồng để trị tội những người phạm tội.

VỊ PHI MINH ĐẾ: Vị: Chưa. Phi: Chẳng phải. Minh Đế: vị Vua sáng suốt. Chẳng phải là thời kỳ của ông Vua sáng suốt.

        ĐỒ TÔN NHỰT: Đồ: Mưu tính. Tôn nhựt: Cha ông ngày nay. Mưu tính làm bá chủ.

Câu 7: Ngày nay đâu phải là thời Quân chủ mà mưu đồ làm Vua.

        THẠNH KHÍ: Gặp thời vận. 
        ĐÀO THINH: Đào: Cây đào. Thinh: Tiếng. Ý nói đến ba anh em kết nghĩa ở vườn đào là Lưu Bị, Quan Công và Trương Phi.

        GIÁC KỶ TIÊN: Giác: Biết. Kỷ: Mấy. Tiên: Lấy roi mà quất. Có đến mấy chiếc roi để quất. 

Câu 8: Đến thời vận, chẳng những có một cây, mà còn có nhiều chiếc roi để quất nó.

 

Đại Ý toàn bài thi đáp họa của Đức Thầy:

          Trời định dân Việt Nam còn phải chịu nạn xâm lăng của Thực dân Pháp trong một thời gian nữa. Ta là một trong những vị Tiên trong Hệ phái BSKH lâm phàm, nhưng không thể nói rõ tên họ. Có thể hé lộ tông tích, xưa kia Ta là Trạng Trình ở làng Cổ Am, phò vua Lê và hiện tại ra đời khai Đạo cứu độ chúng sanh. Bây giờ chưa phải lúc nói đến Minh chúa. Khi nghe đến tiếng của tôi thì bọn chúng đã đào tẩu. Lúc đó, không chỉ một cây roi mà có nhiều cây roi đả chúng.

         

NHẬN XÉT CHUNG:

Theo lệ Xướng, Họa (hay gọi là Vấn, Đáp) của thể thơ Thất ngôn Bát cú Đường luật thì bài thơ Họa chỉ cần Họa đúng theo 5 vần của bài thơ Xướng là được. Vần của bài thơ Đường luật thường rơi vào cuối các câu 1, 2, 4, 6 và 8. Thí dụ như trong bài Xướng của Ông Chín Diệm, có 5 chữ vần (vần bằng) với nhau, đó là: niên, tiên, truyền, thiên, tiên.    

Để đáp Họa, Đức Thầy đã áp dụng đúng luật nên cuối các câu 1, 2, 4, 6 và 8, Ngài cũng gieo các chữ: niên, tiên, truyền, thiên, tiên… nên xem đây là một bài thơ đáp họa rất chỉnh về phương diện hình thức.

Tuy nhiên, ngoài việc họa lại vận bằng, Đức Thầy còn họa lại cả vận trắc nữa. Đó là chữ cuối của các câu thứ 3, 5 và 7 như các chữ: tại địa, nhựt…thì quả là điều hiếm thấy trong làng thi phú từ xưa đến nay.

Ngoài ra, hai bài thơ Xướng của Ông Chín Diệm vẫn còn trong túi, chưa kịp trình ra mà Đức Thầy đã đáp Họa ngay một bài thơ trác tuyệt vừa sát ý vừa chỉnh Luật như thế nầy thì Đức Thầy đúng là bậc:

“Miệng nhích môi đầy văn tao nhã,

  Hạ bút thần, thơ đã đề khai.”

                                  (Nang thơ Cẩm tú)

[Trường hợp nầy cũng đã xảy ra cho Thầy Ba Thận ở làng Phú Lâm (Tân Châu). Ông nầy có làm hai bài thơ mà ông cho là tuyệt tác, tính đến thử tài Đức Thầy. Khi ông vừa đến Tổ Đình thì Đức Thầy đã biết ý định của ông và trả lời ngay những điều mà ông muốn hỏi trong khi đàm đạo, mặc dù ông chưa kịp xuất trình hai bài thơ ấy cho Đức Thầy].

        Đồng thời, qua nội dung bài thơ trên chúng ta còn biết được Đức Thầy chính là Đức Phật Thầy Tây An tái sanh và một trong nhiều tiền kiếp Ngài là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, quê quán làng Cổ Am, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương (Bắc Việt).

        Trên đây chỉ là những đóng góp cá nhơn nên chắc chắn còn nhiều thiếu sót hay sai trái. Kính mong các bậc cao đồ, quý đồng đạo niên lão thấy có điều gì còn khiếm khuyết, xin vui lòng chỉ giáo, chúng tôi kính cẩn lắng nghe và vô vàn cảm tạ.

        Bài Hán Thi đặc biệt nầy do Đức Thầy viết bằng chữ Quốc ngữ (theo mẫu tự Latin) như chúng ta đang sử dụng, nhưng Cố Giáo sư Nguyễn văn Hầu và Đồng đạo Nguyễn văn Chơn vì muốn chú giải ý nghĩa cho chính xác nên căn cứ theo âm tiếng Việt mà viết thành chữ Hán như Quý vị đã thấy ở trên.

        Việc làm nầy rất tốt, nhưng vì chữ Hán thuộc loại “Nhất tự lục nghì” hay “đồng âm dị nghĩa” nên có khi làm sai lệch thánh ý của Đức Thầy. Chẳng hạn:

Chữ “Giả” trong câu “Sơn trung hồi giả…”, ông Chơn viết nghĩa là người. Còn Giáo sư Hầu thì viết có nghĩa là giả, không thật. (như giả mạo, giả sử…).

Chữ “Khuê” trong câu “khuê cổ địa”, ông Chơn viết nghĩa là cái cửa tò vò, cái chỗ con gái ở (như khuê môn, khuê các…), còn GS Hầu viết nghĩa là cái khuê, đơn vị đo lường để đong lúa thóc ngày xưa.

        Chữ “Vị” trong câu “Vị phi minh đế…” (hầu hết quyển Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ ghi là “Vị “), ông Chơn viết nghĩa là chưa, còn GS Hầu viết đọc là “Dị”  có nghĩa là khác lạ, quái lạ.

        Chữ “Đào” trong câu “Thạnh khí đào thinh…”, ông Chơn viết nghĩa là cây đào, sắc đào; còn GS Hầu viết có nghĩa là trốn (như đào nạn, đào thoát…). Ai đúng ai sai trong việc sử dụng Hán tự nầy, chúng tôi đang trông chờ sự phán đoán nơi quý vị.

Lần nữa chân thành cám ơn sự góp ý quý báu của chư quý đồng đạo. Rất mong được sự tận tình chỉ giáo để chúng tôi được học hỏi nhiều hơn về thánh ý mà Đức Thầy đã lưu lại cho chúng ta trong kho tàng Giáo lý PGHH./.

Nam mô A Di Đà Phật !

 

Comments