2012/05/02 - Tìm hiểu về Luật Nhơn Quả

Tìm hiểu về LUẬT NHƠN QUẢ

 

Trong quyển Khuyến Thiện, khi giảng về Ác Đạo tặc, Đức Thầy đã khuyên răn chúng ta:

“Hãy tu thân chừa thói vô nghì,

 Của phi nghĩa làm chi xong chuyện.”

Ngoài ra, nhân dịp nầy Đức Thầy còn cảnh báo môn đồ của Ngài về “Luật Nhơn Quả”:

“Luật nhơn-quả thật là cao viễn,

  Suốt cổ kim chẳng lọt một ai.”

        Ý nghĩa của ý chỉ nầy cho biết sự báo ứng của luật nhân quả rất nghiêm minh và cao xa. Nghĩa là, dầu cho đến bậc Vua quan như vua Lương Võ Đế cũng không thoát khỏi. Và qua bao nhiêu thời gian, kiếp số cũng vẫn báo đền không sao tránh khỏi.

         Thuở xưa, có một nhà Vua vào rừng săn bắn, bỗng gặp một Đạo nhân đang tụng kinh, tiếng nghe thâm trầm thảnh thót. Vua sai lính bắt Đạo nhơn đem về bảo làm ca sĩ. Đạo nhơn không biết ca, chỉ biết tụng kinh tiếng Phạn rất hay. Vua nghe thích lắm, mỗi khi có yến tiệc hay tân khách đến, Vua thường kêu Đạo nhơn ấy ra giúp vui.

        Hôm nọ có người thương buôn vốn là Cư sĩ ở nơi phương xa đến, đem bảo ngọc hiến Vua để xin mang hàng hóa vào nước bán. Vua mừng rỡ tiếp đãi khách và kêu Đạo nhơn ra ca. Thương khách nghe ca sĩ tụng kinh Đại thừa thâm nghĩa lấy làm lạ, liền hỏi Vua về căn tích của người ca sĩ.

        Sau khi mãn tiệc, thương khách đem một ngàn lượng vàng dâng Vua xin chuộc Đạo nhơn. Vua không bằng lòng, đôi bên mặc cả đến ba ngàn lượng, Vua mới ưng thuận giao Đạo nhơn cho thương khách.

        Thương khách mừng rỡ lễ bái Đạo nhơn và bạch:

        -Tôi đã chuộc Ngài ba ngàn lượng vàng nơi Vua, từ đây Ngài khỏi phải làm ca sĩ trong Hoàng cung nữa.

        Đạo nhơn dùng thần thông bay lên đứng giữa hư không đáp:

        -Chính nhà ngươi đã tự chuộc cho mình, chẳng phải chuộc cho ta đâu. Giữa sự ngạc nhiên của Vua quan và dân chúng, Đạo nhơn nói tiếp:

        Thuở xưa, cách đây vô số kiếp, nhà vua là người bán rau hành, lúc ấy ngươi đến mua còn thiếu ba tiền, chủ không chịu bán, ta đứng ra lãnh nợ cho ngươi. Về sau ngươi không trả, mãi đến nay ba tiền đó vốn lời cốn lên tới ba ngàn lượng vàng đấy. Còn ta vì lãnh nợ cho ngươi, nên mới bị nhà Vua bắt giữ bấy lâu nay.

        Vua, Quan và thương khách nghe xong, thảy đều kinh hãi. Vua hối quá làm lễ thọ giới qui y. (Phỏng theo Tòng Lâm Cổ Tích của Như Sanh).

        Đọc câu truyện trên chắc ai cũng thấy tiền thân của nhà thương buôn chỉ giựt có ba tiền từ nhiều tiền kiếp trước mà nay phải trả lại số vàng gấp ba ngàn lần nhiều hơn.

Cổ Đức từng bảo:

“Xuân một hạt giống, Thu gặt ngàn thóc mễ,

  Người đời tạo dữ lành, Quả báo y như thế”.

Kinh Phật cũng từng chép:

“Giả sử bách thiên kiếp, Sở tác nghiệp bất vong

  Nhơn duyên hội ngộ thời, Quả báo hoàn tự thọ”.

(Cái nghiệp tạo ra dù trải qua trăm ngàn kiếp cũng chẳng mất. Khi nhân duyên đến rồi thì nhân nào dẫn theo quả nấy).

Ngoài ra, đề ngăn chừa ác Đạo tặc, Đức Thầy khuyên mọi người nên mạnh tin nơi Luật nhân quả và bởi vì:

“Luân hồi quả báo rất công bằng”.

(Khuyên Sư Vãi)

        Hay:

“Lấy sắc-thân dẹp nỗi bất-bình,

    Bỏ đức-tính của câu nhơn-quả.”

(Q.5, Khuyến Thiện)

Hoặc:

“Cơ thâm thì họa diệc thâm,

Nào trong sử sách có lầm ở đâu”.

(Sấm Giảng, Q.1)

Định luật ấy dầu cho bực Vua quan cũng không tránh khỏi và xa bao thời gian cũng không mất. Mọi việc làm: lành, dữ đều có trả lại, song chỉ đến sớm hay muộn vậy thôi (Họa phước đáo đầu chung hữu báo, chỉ tranh lai tảo dữ lai trì). Vậy kẻ tu hành nên giữ lòng ngay thẳng, thi hành theo Chánh nghiệp (theo Chú giải Sấm Giảng và Thi văn Toàn bộ của Ông Thiện Tâm):

“Tánh ngay thẳng ta không dời đổi,

  Dầu tan xương nát thịt chẳng màng”.

(Sấm Giảng, Q.1)

        Sau đây là lời giải thích của Cố Giảng viên Lê văn Phú tự Tho về chữ “Nhân Quả” trong buổi thuyết giảng Giáo lý PGHH tại xã Tân An, năm 1974:

“Luật nhơn quả thật là cao viễn, suốt cổ kim (tức từ xưa cho đến nay) Đức Thầy cho biết là không thoát lọt một người nào hết. Hễ ai trồng nhân gì là có quả nấy, trồng dưa gặt dưa, trồng đậu gặt đậu, trồng lúa gặt lúa…Không khi nào chúng ta trồng ổi mà gặt cam bao giờ. Đó chính là Luật nhơn quả thật là cao viễn (cao là cao; viễn là xa), nó cao xa lắm, quý báu lắm mà cũng nhiệm mầu lắm.

Vậy chúng ta nên hiểu rành Luật Nhơn quả (Nhơn là hột giống; quả là bông, trái). Chúng ta trồng giống gì thì sẽ lên cây đó, bông đó và trái đó. Trồng ớt có lá ớt, bông ớt, trái ớt, ăn vào có vị cay. Còn nếu chúng ta trồng cam sẽ có cây cam, bông cam, trái cam ăn có vị ngọt. Do đó chúng ta nên trồng giống ngọt, đừng trồng giống chua cay…mà sau nầy hối tiếc.

Trong giáo lý của đạo Phật có rất nhiều trọng tâm để tham học và tu tập như là: Từ bi hỷ xả; Phật tánh; Vô minh tứ đế; Bát chánh đạo; Ngũ uẩn; Bát nhã; Bồ đề..v..v.. nhưng chỉ có trọng tâm NGHIỆP là tinh yếu nhất, quan hệ nhất cho đời sống cá nhân nói riêng, cho Đạo pháp chúng ta nói chung.

NGHIỆP là nền tảng mà trên đó giáo lý căn bản của PHẬT GIÁO được xây dựng nên. Cho nên phải biết NGHIỆP đóng một vai trò quan trọng như thế nào trong đạo Phật.

Vậy hễ TU PHẬT - bất luận theo pháp môn nào - cần phải thấu triệt và hoàn toàn tin tưởng vào NGHIỆP BÁO tức là LUẬT NHÂN QUẢ.

Đức Phật có dạy rằng: "...Thuở xưa từ đời quá khứ cách đây rất xa chúng ta đã tạo ra Nhân quả rồi. Những Nhân quả ấy dồn dập như sóng biển, dầu cho trải qua bao nhiêu kiếp cũng không hề thất lạc. Đúng kỳ, chúng hiện ra cho chúng ta hoặc thưởng hoặc phạt tùy theo chúng ta đã làm lành hay làm dữ, làm phải hay làm quấy.

Về Nhân quả báo ứng, ai làm nấy chịu, chẳng trốn tránh hay san sớt cho người khác được..." (Soạn tập bá duyên kinh)

Trong Phật Học Phổ Thông, HT Thích Thiện Hoa giải thích:

"Nhân" là nguyên nhân, "Quả" là kết quả. Nhân là cái mầm. Quả là cái hạt, cái trái do mầm ấy phát sinh. Nhân là năng lực phát động, Quả là sự hình thành của năng lực phát động ấy. Nhân và Quả là hai trạng thái tiếp nối nhau mà có. Nếu không có Nhân thì không có Quả; nếu không có Quả thì không có Nhân.

Nếu ta muốn có quả cam thì ta phải ươm hạt giống cam; nếu ta muốn có hạt đậu thì ta phải gieo giống đậu. Không bao giờ ta trồng cam mà lại được đậu, hay trồng đậu mà lại được cam. Người học đàn thì biết đàn, người học chữ thì biết chữ. nói một cách khác, nhân với quả bao giờ cũng đồng một loại với nhau. Hễ nhân đổi thì quả cũng đổi.”

Có rất nhiều sự tích chứng minh là luật Nhân quả là bất di bất dịch và “suốt cổ kim không lọi một ai” đến như đức Phật - một đấng Đại từ Đại bi, công đức vô lượng vô biên, một bậc thầy của Trời và người mà còn phải trả quả huống hồ là ai, có chuyện kể rằng:

"Một thời gian nọ, khi Phật đang ngụ ở Trúc Lâm tịnh xá gần thành Sa duyệt, bỗng đâu một mũi kim thương hiện ra sừng sững trước mặt Ngài. Ngài hiện hình lên không trung, mũi kim thương cũng bay lên theo; Ngài trở xuống tịnh xá; mũi kim thương cũng bay xuống theo. Thấy thế Phật bèn nói với mọi người hiện diện tại đó cùng với Thiên long Bát Bộ rằng:

- Kim thương này là quả báo đời trước của ta. Vậy mọi người hãy an lòng để ta trả quả.

Phật bèn đưa chân mặt ra, kim thương đâm xuống chân Phật, lún xuống đất, rung động cả vũ trụ. Mọi người thấy thế lấy làm ngạc nhiên và xin Phật giải rõ. Phật nói: "Trong một tiền kiếp xa xưa, thật là xa ta là một vị Chúa tàu chở 500 người đi buôn, ra biển để tìm báu vật. Bỗng nhiên đang đi ngoài khơi, có một kẻ trong bọn ấy sanh tâm muốn giết hết tất cả để đoạt sản vật, ta liền đâm nó chết. Nay ta phải trả cái quả ấy". (theo QUY NGUYÊN TRỰC CHỈ)

Trong bài “Nhân quả và Nghìệp báo” thầy Quảng Thông có viết:“Tin nhân quả cũng có nghĩa là tin vào chính bản thân mình. Không ai có thể ban phúc giáng họa cho ai mà chính mình là chủ nhơn ông của những hành động thiện ác và quả báo cho mình. Khi mới sinh không đem đến bất cứ một cái gì và khi chết đi cũng chỉ ra đi với hai bàn tay trắng.”

Cho dù chết đi sống lại bao nhiêu lần thì cũng chỉ như vậy ngoại trừ những hành nghiệp mà mình đã gây tạo là cái duy nhất có thể đi theo với chúng ta mà thôi. Đức Phật dạy: Con người là chủ nhơn ông của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp. Là chủ nhơn cho nên chúng ta có thể nắm lấy vận mệnh của mình, chuyển hóa và tạo dựng những hành nghiệp tốt lành cho chính mình.

Thời Đường có một vị cao tăng được gọi là Ngộ Đạt Quốc sư. Trước khi nổi tiếng và được phong làm Quốc sư, có một lần ông gặp một nhà sư đang bị bệnh tại một ngôi chùa. Nhà sư ấy trên người đang bị lở loét, bốc mùi hôi thối rất ghê, vì thế những người khác đều lo mà tránh cho xa, chỉ có Ngộ Đạt Quốc sư, thường thương xót mà chăm sóc cho ông ta, bệnh tình của nhà sư ấy cũng dần dần được khá lên. Sau này vào lúc chia tay, nhà sư ấy cảm kích và nói với ông: “Sau này nếu như ông gặp nạn, thì có thể tới Tứ Xuyên, Bành Châu, Cửu Lũng Sơn mà tìm tôi. Trên núi đó có hai cây tùng mọc liền nhau làm mốc đánh dấu chỗ tôi ở.”

Về sau, nhờ Đức hạnh cao thâm, Ngộ Đạt được Đường Ý Tông cực kỳ tôn kính và phong làm Quốc sư, đối với ông vô cùng sủng ái. Nhưng mà một ngày nọ, trên đầu gối của Ngộ Đạt Quốc sư đột nhiên mọc ra một vết loét có hình mặt người, đầy đủ cả mắt mũi miệng. Mỗi lần lấy thức ăn nước uống đút cho thì nó đều có thể mở miệng ra ăn uống hệt như người. Thỉnh mời danh y các nơi tới chữa trị nhưng tất cả đều bó tay.

Một ngày nọ, Ngộ Đạt Quốc sư đột nhiên nhớ lại lời dặn dò của vị tăng nhân bị bệnh lúc chia tay, nên bèn lên đường vào núi tìm kiếm. Cuối cùng vào lúc trời nhá nhem tối, Ngộ Đạt quả nhiên tìm được hai cây tùng mọc liền nhau, cao vút tận mây. Còn vị tăng kia đã đứng ở trước một cung điện lớn bằng vàng và ngọc bích huy hoàng tráng lệ, chờ đợi ông. Vị tăng ấy ân cần tiếp đãi Ngộ Đạt Quốc sư và giữ ông ở lại đó.

Ngộ Đạt Quốc sư bèn kể về căn bệnh kỳ quái và nỗi thống khổ của bản thân, vị tăng kia nói với ông: “Không sao cả, ở dưới núi đá này có dòng suối trong, đợi đến sáng sớm ngày mai ông tới đó dùng nước suối ấy rửa thì sẽ khỏi bệnh thôi”.

Bình minh ngày hôm sau, khi Ngộ Đạt Quốc sư tới cạnh dòng suối trong vắt ấy, đúng lúc đang muốn vốc nước để rửa, đột nhiên nghe thấy vết loét mặt người kia lại mở miệng kêu to: “Hãy khoan rửa đã! Ông có tri thức uyên thâm, thông kim bác cổ, nhưng không biết là ông đã đọc câu chuyện về Viên Áng và Triều Thác trong sách 'Tây Hán thư' hay chưa?”.

Ngộ Đạt Quốc sư trả lời:“Đã từng đọc qua rồi!”.

Vết loét mặt người nói:“Nếu ông đã đọc rồi, tại sao không biết chuyện Viên Áng giết Triều Thác chứ! Kiếp trước ông chính là Viên Áng, còn Triều Thác chính là ta. Lúc đó do ông tâu lời sàm ngôn với Hoàng đế, hại ta phải bị chém ngang lưng tại Đông Sơn. Mối thù sâu hận lớn này, ta suốt mấy kiếp liền đều tìm kiếm cơ hội để trả thù, nhưng vì suốt 10 kiếp ấy ông đều là một vị cao tăng, lại giữ gìn giới luật nghiêm cẩn, khiến cho ta không có cơ hội để báo thù. Lần này ông vì được Hoàng thượng quá sức sủng ái cho nên lòng danh lợi đã động, đạo đức có chỗ bị tổn khuyết cho nên ta có thể đến gần ông mà trả thù. Hiện nay nhờ có tôn giả Mông-già-nhược-già (hóa thân làm vị tăng nhân bị bệnh) ban cho ta nước phép tam muội, giải thoát cho ta. Thù xưa giữa chúng ta đến đây cũng đã được giải rồi!”.

Sau khi nghe xong, Ngộ Đạt Quốc sư bất giác rùng mình kinh ngạc, vội vàng vốc nước rửa ráy, lúc rửa cảm thấy đau đớn thấu tận xương tủy, và ngất xỉu. Sau khi tỉnh lại ông thấy vết loét đã biến mất, quay đầu lại nhìn thì cung điện vàng ngọc lộng lẫy kia cũng đã không còn dấu tích đâu nữa. Về sau Ngộ Đạt Quốc sư tu hành ngay tại chỗ này, từ đó trở đi không rời ngọn núi ấy nữa. Bộ kinh “Tam muội thủy sám” nổi tiếng chính là do Ngộ Đạt Quốc sư truyền lại cho đời sau.

Một mối thù từ 10 kiếp trước, đến tận 10 kiếp sau, kẻ có tội dù là một vị cao tăng, nhưng chỉ vì một niệm danh lợi khởi lên từ trong lòng, vẫn chạy không thoát sự báo ứng về nhân quả. Câu chuyện cổ chân thực này, đã cho chúng ta một sự cảnh tỉnh không nhỏ.

Rõ ràng sự trả vay của luật nhân quả rất nghiêm minh, hễ gieo giống chi tất hưởng trái nấy; mọi cuộc sống sang hèn vui khổ trên đời, đều do nghiệp nhân của mỗi người đào tạo vừa qua mà bây giờ nó trả lại, như lời Đức Thầy chỉ dạy:“Trồng bông kiểng giống chi hưởng nấy.(Q.4, GM Tâm Kệ).

   

        “Đây là bức hình của một vị nữ sĩ người Singapore, trên mặt nổi một cục bướu to hình người, miệng trên cục bướu hình người này không chỉ có thể ăn cơm mà còn có thể nói chuyện.

        Hiện tại cô đang sống ở Tây Tạng, mỗi ngày đều có một vị Hoạt Phật giảng kinh thuyết pháp cho cô”. (Ngày 3 tháng 1 năm 2007)

        Bức hình khiến người ta xem xong vô cùng sợ hãi nhưng lại là một câu chuyện có thật, càng cảm ân vị Bồ Tát này đồng ý "dĩ thân thị pháp", nguyện những ai xem xong đều có thể sám hối, cảm ân và buông hết tất cả.

        Đây là thực chứng về sự tồn tại của oan gia trái chủ: cục bướu trên mặt hình người có đầy đủ ngũ quan, lại có thể ăn cơm, nói chuyện.

        Nhân quả báo ứng theo mỗi chúng ta, bất cứ ai trên thế gian này, chỉ có điều là hình thức biểu hiện của nó không giống nhau. Trên con đường tu học chúng ta phải luôn tinh tấn, chân tu thật luyện, như thế mới có thể cải biến vận mệnh của mình.

        nguồn gốc: http://sinhviensungduc.co.cc/

        Thiết nghĩ, chúng ta là những người con Phật, là tín đồ PGHH nếu đã thấu triệt luật Nhân quả thì dù cho trong hiện đời có một đại bất hạnh nào xảy ra, ta vẫn an nhiên tự tại, không nên buồn rầu, thối chuyển đạo tâm mà nên lấy đó làm một đề mục để quán xét: Hễ là nợ, nếu trả được món nào thì mừng món đó chẳng khác nào rút được một trong vô số những mũi kim ra khỏi người. Bởi vì điều bất hạnh ấy đáng lý ra là “trọng báo” của những đời sau nhưng nay nó chuyển ra thành “khinh báo” ở đời này; đó là do chỗ ta chơn thành, chí kính và tha thiết tu niệm nên mới được "dồn quả" như vậy../.

 

 

Comments