2012/05/08 - Góp ý về Bài thơ chiết tự

Góp ý về Bài thơ chiết tự

 

Lúc trước, mỗi khi cầm quyển Sấm Giảng và Thi Văn Giáo Lý của Đức Thầy, đọc đến bài HÁN THI của Ông HUỲNH HIỆP HÒA xướng, nhứt là phần chú thích bên dưới trang sách (1) Nếu chiết tự 6 câu đầu của bài nầy thì chúng ta thấy mấy chữ sau đây: Trạng Trình, Cử Đa, Đề Thám. Ông Huỳnh Hiệp Hòa muốn hỏi coi Đức Thầy có phải là một trong 3 ông đã kể trên đây chăng ? là lòng tôi cảm thấy buồn tủi cho sự dốt nát của chính mình.

Bởi vì, toàn bộ bài thơ đều là chữ Hán-Việt khi đọc lên đã là khó hiểu rồi, mà tác giả lại còn dùng cách chiết tự để thử tài Đức Thầy, thì thật là rắc rối lớn. Đó cũng chẳng qua là do sự dốt nát của mình. Tôi rất lo buồn không biết đến bao giờ mình mới hiểu được ý nghĩa của những bài HÁN THI này để biết được tâm tư, tình cảm và luôn cả ý chỉ của Đức Thầy đã gởi gắm trong những tác phẩm quý báu này? Không biết có bậc tiền bối hay quý cao đồ nào đã ra công chú giải các bài HÁN THI này chưa? Nếu không thì hàng hậu tấn như chúng tôi làm sao mà hiểu được Giáo lý siêu mầu của Đức Thầy ẩn tàng rất nhiều trong những bài HÁN THI đó ??? Đó là những câu hỏi cứ lẩn quẩn bên chúng tôi từ bấy lâu nay, nếu không muốn nói là gần suốt cuộc đời người.

Mấy năm gần đây, may mắn được Đồng đạo Trương Văn Thạo ở Dallas (Texas) cho mượn quyển TỪ ĐIỂN ĐẶC DỤNG do Ông Nguyễn Văn Chơn biên soạn. Trong quyển sách này, ông Chơn đã chú giải hầu hết những bài HÁN THI mà soạn giả gọi là “Những bài THI HÁN của Đức Huỳnh Giáo Chủ sáng tác và đáp họa với các bậc túc nho (1939-1947)”.

Chúng tôi nhận thấy đây là một công trình rất có giá trị, cần được phổ biến rộng rãi, nhứt là cho những ai hằng quan tâm nghiên cứu Giáo Lý PGHH mà đã từ lâu gặp trở ngại vì những bài HÁN THI này.

Sau đây, căn cứ vào Tài liệu biên khảo của Ông Nguyễn Văn Chơn, chúng tôi xin trình bày lại nội dung và ý nghĩa bài thơ xướng của Ông Huỳnh Hiệp Hòa (người làng Bình Thủy, tỉnh Long Xuyên), đặc biệt về vấn đề chiết tự:

       Phiến ngôn đại chấn điểm nam cương,

Khẩu tụng Văn vương vị bốc tường.

Dữ thiện ngôn ngôn tung nhứt nhị,

Hành nhơn tịch tịch muội tâm lương.

Mã lai thủ thị danh thương pháp,

Thủy kiệt chưởng thâm tẩy khổ trường.

Thi vấn hồi âm tri bửu hiệu,

Tứ minh tam vị hiển văn chương.”

(Tr.282 – SGTVTB 2004)

        -Chiết tự câu “Phiến ngôn đại chấn điểm nam cương”: Chữ Phiến () thêm chữ đại () và chữ điểm (tức là một chấm.) thành ra chữ TRẠNG () 

        -Chiết tự câu “Khẩu tụng Văn Vương vị bốc tường”: Chữ Khẩu () trên và chữ Vương () dưới. Thành ra chữ TRÌNH ()

Hai câu: Phiến ngôn đại chiến điểm nam cương,

    Khẩu tụng Văn Vương vị bốc tường.

        Chiết tự ra thành TRẠNG TRÌNH. ( ) Ý của ông Hòa hỏi Đức Thầy có phải là ông Trạng Trình hay không?

        -Chiết tự câu: “Dữ thiện ngôn ngôn tung nhứt nhị”. Chữ Dữ (), cùng chữ Tung (), thêm nét sổ xuống một gạch, cộng với chữ Nhị (), hai gạch ngang, thành chữ CỬ ()

        -Chiết tự câu “Hành nhơn tịch tịch muội tâm lương”. Hai chữ Tịch () cộng lại thành chữ ĐA ()

Hai câu: Dữ thiện ngôn ngôn tung nhứt nhị,

    Hành nhơn tịch tịch muội tâm lương.

Chiết tự ra thành CỬ ĐA ( ). Ý của ông Hòa hỏi Đức Thầy có liên hệ gì với ông Cử Đa hay không?

        -Chiết tự câu “Mã lai thủ thị danh thương pháp”. Chữ Thủ () đi với chữ Thị () là chữ ĐỀ ()

        -Chiết tự câu “Thủy kiệt chưởng thâm tẩy khổ trường”. Chữ Thâm () mất nước () còn lại chữ thâm (không còn bộ Thủy). Chữ Chưởng () và chữ Thủ () đều chỉ về bàn tay, cánh tay. Bỏ bộ Thủy thay chữ Thủ, thành ra chữ THÁM ()

        Hai câu: Mã lai thủ thị danh thương pháp,

    Thủy kiệt chưởng thâm tẩy khổ trường.

Chiết tự thành ĐỀ THÁM ( ). Ý ông Hòa muốn hỏi Đức Thầy, có liên quan gì với ông Đề Thám hay không?

--- oOo ---

Xin tóm lược đại ý từng câu của bài HÁN THI trên đây như sau:

1)- Một lời nói ra làm cho mọi sự được an lành, khắp nơi đều yên ổn,

2)- Mặc dù chưa nói ra nhưng ông Hòa đã biết Đức Thầy có danh tiếng và ngôi vị như vua Văn Vương thuở trước.

3)- Cùng với việc làm lành, đối với Ngài trên đời có một không hai.

4)- Nghĩa đen: Người đi trong đêm tối. Nghĩa rộng: Ý nói tuy có lòng lành mà vẫn còn nơi tối tăm, tâm lành chưa được mở rộng.

5)- Ngựa đã đến, tay cầm thương lên tuấn mã, trong bụng sẵn có binh thư đồ trận. (Ý nói vốn là một danh tướng tài ba xuất chúng.)

6)- Nghĩa đen: Gặp lúc nước cạn, dùng bàn tay tìm nước. (Ý nói khi gặp cơn hoạn nạn thì ra tay gánh vác, dìu dắt ra khỏi chỗ ấy).

7)- Dùng bài thi để xin hỏi cho biết quý tánh tôn danh.

8)- Ba ông: Trạng Trình, Cử Đa và Đề Thám mà Ngài có nhắc đến trong văn thơ.

Đại ý toàn bài:

Ông HÒA cho rằng: Đức Huỳnh Giáo Chủ khai Đạo, tiếng tăm vang dội miền Nam Việt Nam. Vậy Ngài có liên hệ gì với ba ông: Trạng Trình, Cử Đa và Đề Thám, mà ông đã nói trong văn thơ ?

Sau đây là bài thơ của Ông Nguyễn văn Chơn lược dịch từ bài HÁN THI trên:

Một lời chấn động cả miền Nam,

Chưa nói nhưng tôi hiểu rõ ràng.

Việc thiện của Ngài như có một,

Điều lành dân thứ khó gìn kham.

Trận tiền thương ngựa đều dành sẵn,

Cứu chúng ra tay diệt khổ nàn.

Thi hỏi hiệu danh xin đáp lại,

Một trong ba vị ở thi văn.

Và bài lược dịch theo lối Chiết tự:

Phiến chấm đại bên TRẠNG hữu tình,

Dưới vương, trên khẩu hợp nên TRÌNH.

Sau tung, trước dữ thành nên CỬ,

Hai tịch là ĐA chữ lập thành.

Thủ thị tay ĐỀ tên bảng hổ,

Thủ thâm mất thủy THÁM là danh.

Làm thơ xin hỏi tôn danh hiệu,

Ba vị văn chương hiển hiện rành.

Bài HÁN THI của Ông Huỳnh Hiệp Hòa xướng được Đức Thầy đáp họa như sau:

                           “Hồi đầu điểm đạo chuyển phong cương,

Háo thắng bi ly đạo khổ tường.

Tề tướng cam phong an diện nhị,

Hàn nhơn thọ khóa tác tâm lương.

Thiên tôn mật sát nhơn gian pháp,

Phật lý di khai đại hội trường.

Tam bá ngoại niên chơn bút hiệu,

Hàn lâm nhứt đấu vịnh thiên chương.”

(Tr.282 – SGTVTB 2004)

(Đại ý: Đức Thầy khuyên ông Huỳnh Hiệp Hòa hãy sớm quày đầu hướng thiện, nếu còn tranh hơn thua cao thấp sẽ không gần được Đạo. Ngài cho biết có sứ mạng vâng lịnh Phật Tổ lâm phàm khai Đạo, lập hội Long Hoa, chọn người hiền đức. Trên ba trăm năm Ngài là quan Đại học sĩ, đứng đầu một triều vua, có sáng tác một ngàn bài thơ).

Bài đáp họa của Đức Thầy cũng được Ông Nguyễn Văn Chơn lược dịch bằng bài thơ theo thể Đường luật như sau:

Hãy quay tìm Đạo ở phương Nam,

Tranh luận đạo xa khá rõ ràng.

Tề Tướng hai bề an ổn được,

Hàn Nhơn một mặt khó gìn kham.

Nhơn gian Phật giáo Thiên tôn vị,

Thích đạo hoằng khai đại hội trường.

Ta đã ba trăm năm có lẻ,

Làm quan sáng tác ngàn bài văn.

Mặc dù Đức Thầy không trực tiếp trả lời cho biết Ngài là ai trong ba vị kể trên nhưng qua hai câu kết (7 và 8), Ngài đã tiết lộ cho chúng ta biết giữa Ngài và cụ Trạng Trình có sự liên hệ vô cùng mật thiết.

Được biết, cụ Trạng Trình tộc danh là Nguyễn Bỉnh Khiêm sanh năm Tân Hợi (1491), mất ngày 28 tháng 11, năm Ất Dậu (1585). Nguyên quán làng Cổ Am, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương (Bắc Việt). Ngài có hiệu tự là Bạch Vân Cư Sĩ, trong sự nghiệp văn chương, Ngài đã trước tác một ngàn bài thơ, gồm nhiều thể loại. Tên tác phẩm là “Bạch Vân Thi Tập” và “Bạch Vân Quốc Ngữ Thi”.

Nếu tính vào thời điểm Đức Thầy khai đạo, ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão (1939) và năm mất của cụ Trạng Trình (1585), chúng ta sẽ thấy:

(1939 – 1585 = 354 năm)

Do đó, Đức Thầy đã xác nhận:“Tam bá ngoại niên chơn bút hiệu.” (Ngoài ba trăm năm mới chính là tên hiệu của Ngài). Ngoài ra, Đức Thầy cũng tiết lộ Ngài có liên hệ với cụ Trạng Trình: “Trình mỗ ngộ kim khuê cổ địa” (Ta là Trạng Trình ở làng Cổ Am) trong bài “Đáp họa” với bài Hán Thi của Ông Chín Diệm Nguyễn Kỳ Trân và trong bài “Để chơn đất Bắc”, Ngài có nói rõ:

        “Vân vân bạch bạch thức sinh thần,

Cổ quán thôn hương nhứt dị nhân.

Tiên sinh hậu kiếp phò Lê chúa,

Hậu truyền độ chúng cảm hoài ân.”

(Đại ý: Giữa Đức Huỳnh Giáo Chủ và cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm có sự liên hệ mật thiết: Cùng tôn thờ Lê Chúa và vì dân mà phục vụ, vì nước mà dám quên mình. Đức ân đó đáng được hậu thế ghi nhớ).

Chính vì những chi tiết xác đáng này mà Đồng đạo Trần Phú Hữu (hiện đang ở Washington D.C.) quả quyết Cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tái sanh làm con của Đức Ông và Đức Bà ở làng Hòa Hảo và cũng chính Cụ Trạng Trình là một trong ba ông TỚ theo sát xác phàm của Đức Thầy, như trong câu Sấm Giảng:

“Khùng thời ba TỚ một THẦY,

       Giảng dạy dẫy đầy rõ việc Thiên cơ.” (Quyển 1)

Xin cám ơn Ông Nguyễn Văn Chơn, cám ơn công trình nghiên cứu, chú giải những bài HÁN THI của Đức Thầy đã cho chúng tôi hiểu được phần nào ý nghĩa của những tác phẩm này và nhứt là hiểu biết sự chiết tự trong chữ Hán qua bài HÁN THI của Ông Huỳnh Hiệp Hòa, mà từ lâu cứ ôm ấp sự buồn bực trong lòng tưởng không bao giờ được giải tỏa.

Kính mong đuợc sự đóng góp của chư Quý Đồng đạo khắp nơi để việc nghiên cứu và học hỏi Giáo lý PGHH đạt được nhiều thành quả tốt đẹp./.

Trân trọng kính chào.

 

Nam Mô A Di Đà Phật !

 

Comments