2012/05/01 - Tim hiểu về Luân Hồi

Tìm hiểu về LUÂN HỒI

 

Trong quyển KỆ DÂN CỦA NGƯỜI KHÙNG, Đức Thầy vạch rõ máy huyền cơ cho sanh chúng biết những tai ách sắp xảy ra: nào sưu thuế nặng nề, chiến tranh chết chóc; nào nghèo khổ đói cơm, thiếu thuốc. Để rồi, Ngài kêu gọi bá tánh sớm tỉnh ngộ tu hành, tránh họa diệt vong của ngày tận thế. Đồng thời Ngài cải sửa những sự sai lầm do Thần Tú và số người tu lạc chân lý bày ra trong Đạo Phật, như âm thinh sắc tướng, mê tín dị đoan v.v…

Ngài cũng khuyên mọi người hành đúng theo Chánh pháp Vô vi của Đức Thích Ca tự nghìn xưa, hầu trực kiến Phật tâm tỏ ngộ chân tánh hoặc chuyên tâm niệm Phật làm lành để được vãng sanh về Cực Lạc, thoát cảnh luân hồi sanh tử. (theo “Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ Chú Giải” của cố Đồng đạo Thiện Tâm)

Vậy thì “Luân Hồi sanh tử” là gì ? Là người tín đồ PGHH, chúng ta cũng cần nên tìm biết ý nghĩa rõ ràng để thấy giá trị tuyệt vời của những lời Đức Tôn Sư ân cần chỉ dạy. Sau đây là định nghĩa của Tự điển Phật học về nghĩa lý chữ Luân Hồi. 

 Luân hồi ( ) nguyên nghĩa Phạn ngữ là “lang thang, trôi nổi”, có khi được gọi là Hữu luân ( ), vòng sinh tử, hoặc gọi đơn giảnSinh tử ( ). Thuật ngữ này chỉ những đời sống tiếp nối nhau, trạng thái bị luân chuyển của một loài Hữu tình khi chưa đạt giải thoát, chứng ngộ Niết-bàn. Nguyên nhân trói buộc trong luân hồi là các pháp Bất thiện, gồm có tham ái, sân si.

Theo HT. Thích Thanh Từ, Luân hồi là xoay vần, cứ mãi đảo lên lộn xuống xoay vần trong khuôn khổ cố định. Mọi sự đổi thay biến chuyển không đứng yên một vị trí nào. Hằng xê dịch biến thiên từ trạng thái này sang trạng thái khác, từ hình tướng này sang hình tướng khác. Tất cả sự biến thiên tùy duyên thăng trầm không nhất định là luân hồi.

Trong giáo lý PGHH, khi đề cập đến hai chữ LUÂN HỒI, Đức Thầy cho biết:

“Từ nhỏ tuổi đến người trưởng lão,

  Mắc trong vòng sanh tử luân hồi”.

(Q.4, GM Tâm kệ)

Có nghĩa là khắp chúng sanh trong cõi trần, dầu già, trẻ, trí, ngu, hay sang hèn, quyền quý... ai cũng phải chịu cảnh chết đi rồi sanh trở lại, và cứ thế mà lên xuống mãi trong sáu đường luân hồi thống khổ.

Sáu đường luân hồi ấy còn gọi là Lục Đạo, gồm có: 1- Thiên đạo (cõi trời), 2- Nhân đạo (cõi người), 3- A Tu La đạo (cõi thần), 4- Súc sanh đạo (loài thú), 5- Ngạ quỉ đạo (cảnh giới ngạ quỉ), 6- Địa ngục đạo (cảnh giới địa ngục).

Đồng thời, Đức Thầy cũng cảnh giác:

“Tâm trần-tục còn phân nhơn ngã,

  Thì làm sao thoát khỏi luân-hồi”.

(Q.2, Kệ Dân)

TÂM TRẦN TỤC nghĩa cũng như tâm trần cấu. Tức là tâm nhiễm ô trần trược. Vì các phiền não mê tình đã kết cấu từ vô thỉ, khiến tâm càng ngày càng thêm ô trược . Đây chỉ cho tâm của mỗi chúng sanh.

PHÂN NHƠN NGÃ tức là tâm phân biệt nhân ngã. Có nghĩa lòng phân biệt “người – ta” và “của người - của ta” trong chỗ hơn thua cao thấp, xấu tốt.

Nói chung, vì cái vọng tâm phân biệt nhơn ngã, khiến con người tham đắm danh, lợi, tình…để bồi bổ cho giả thân hoặc mê say theo vật chất, kim tiền mà phải luân hồi mãi mãi. Chính vì vậy mà Đức Thầy xác nhận:

“Gây ra lắm nợ phong-trần,

Luân-hồi sáu nẻo khôn lần bước ra.”

(Cho Ông Cò tàu Hảo)

Ý nghĩa chữ LUÂN HỒI được hiểu như sau: Luân (輪) là bánh xe, hồi (迴) là trở lại. Ý nói chúng sanh từ vô thỉ đến nay cứ sống rồi chết, chết rồi đầu thai trở lại. Cứ thế mà lăn lộn lên xuống mãi trong sáu nẽo (Trời, Người, Thần A-Tu-La, Súc sanh, Ngạ quỉ, Địa ngục) như bánh xe xoay tròn không có đầu mối.

Luân hồi còn có nghĩa là sanh tử, đối lập với Niết bàn (bất sanh bất diệt).

Cách đây hơn 2.500 năm về trước, Tiên ông A Tư Đà sau khi nhìn rõ toàn thân của Thái Tử Sĩ Đạt Ta (vừa mới đản sanh), Ông đoán rằng: Nếu sau nầy Thái Tử nối ngôi sẽ làm đến bậc Chuyển Luân Thánh Vương, bằng đi tu ắt đạt thành quả vị Chánh đẳng Chánh giác. Nhưng phần chắc là Thái Tử sẽ lìa bỏ cung vàng ngôi báu, chẳng núng nao trước sự gian khổ nơi rừng thiêng, nước độc để tìm ra chánh Đạo hầu giải khổ cho chúng sanh và Ngài sẽ chứng quả Vô Thượng Bồ Đề. Khi đó khắp dương gian đều được gội nhuần Pháp nhũ và cả Tam giới chúng sanh, cũng hết lời ca tụng. Ngài sẽ ban vui cứu khổ cho khắp nhân gian; biết bao người nhờ nương theo pháp nhiệm của Ngài mà giải thoát luân hồi sanh tử. Điều nầy đã được Đức Thầy xác nhận:

“Cả hồng-trần đau-thương thống-thiết,

  Nhờ Ngài mà diệt nẻo luân-hồi.”

(Q.5, Khuyến Thiện)

Thật vậy, bằng vào Pháp môn Tịnh độ, Ngài đã giải thoát cho biết bao sanh linh không còn quanh quẩn trong sáu nẽo luân hồi mà hồn linh được thoát chốn Mê đồ, vãng sanh về miền Cực Lạc.

Trong quyển 5 (Khuyến Thiện), Đức Thầy đã giải rõ về Pháp môn Tịnh độ như sau:

                    “Lòng thương chúng thuyết phương Tịnh độ,

Đặng dắt dìu tất cả chúng sanh.

Nếu như ai cố chí làm lành,

Chuyên niệm Phật, cầu sanh Phật Quốc.

Cả vũ trụ khắp cùng vạn vật,

Dầu Tiên, Phàm, Ma, Quỉ, Súc sanh.

Cứ nhứt tâm tín, nguyện, phụng hành,

Được cứu cánh về nơi an dưỡng.”

Bởi quá thương xót chúng sanh mãi trôi lăn trong bể trần gian đầy đau khổ, ngụp lặn trong sáu nẽo luân hồi nên xưa kia Đức Phật đã thuyết Vô Lượng Kinh Pháp để tùy cơ giáo hóa, nhưng vì muốn rộng độ hết các từng lớp chúng sanh; Đức Phật mới ân cần khai thị Pháp môn “Tịnh Độ”, bởi pháp môn nầy rất giản tiện và dễ chứng đắc hơn hết. Thế nên ngày nay Đức Thầy cũng tiếp tục xiển dương Pháp môn ấy để hóa độ chúng sanh:

“Môn Tịnh độ là phương cứu cánh,

  Rán phụng hành kẻo phụ Phật xưa”.

(Q.5, Khuyến Thiện)

Ngài cho biết, tất cả chúng sanh trong thế giới Ta Bà, không phân biệt Tiên, phàm hay ma, quỉ, súc sanh, nếu một chúng hữu tình nào biết tu theo Pháp môn Tịnh độ, nghĩa là quyết chí làm lành lánh dữ và nhứt tâm trì niệm sáu chữ “Nam Mô A Di Đà Phật”, dù trong lúc đi, đứng, nằm, ngồi hay uống ăn, ngủ nghỉ đều cũng trì hành như vậy:

“Rán trì tâm tuởng niệm canh thâu,

  Nằm đi đứng hay ngồi chẳng chấp”.

(Q.2, Kệ Dân)

Đồng thời, mỗi người cần có đủ ba đức tánh: lòng tin chắc thật, chí nguyện thiết tha và phụng hành tinh tấn thì chắc chắn chỉ trong một kiếp nầy là được thoát khỏi sáu đường sanh tử luân hồi và vãng sanh về An Dưỡng Quốc (Cực lạc) của Đức Phật A Di Đà. Như lời Đức Thầy xác quyết:

  “Chỉ một kiếp Tây-phương hồi-hướng,

    Thoát mê-đồ dứt cuộc luân-hồi.”

(Q.5, Khuyến Thiện)

Và Ngài còn cho biết những người hiền lương đức hạnh, sau nầy được Đức Phật A Di Đà dùng phép thần diệu không những cứu thoát mọi thống khổ nơi cõi Ta bà và tiếp dẫn linh hồn vãng sanh về Cực Lạc, hưởng quả an vui, mà chẳng còn bị luân hồi trong sáu nẻo:

“Lại được thêm thoát khỏi Ta-bà,

  Khỏi luân-chuyển trong vòng Lục Đạo.”

(Q.2, Kệ Dân)

Do đó, ngay từ bây giờ, chúng ta nên hồi tâm giác tỉnh, nương theo con đường Đạo pháp của Tổ Thầy đã vạch, lo trau sửa thân tâm. Làm lành lánh dữ, niệm Phật ăn chay cho tội quả tiêu mòn, phước hạnh được gia tăng. Đặng vậy chư Phật sẽ tiếp độ linh hồn chúng ta:

“Về Cực lạc thảnh thơi an dưỡng,

  Ấy là ngày ban thưởng công tu”.

(Cho Ô. Cò tàu Hảo)

Và chúng ta sẽ không còn bị luân chuyển trong sáu đường sanh tử:

“Tội tiêu phước hưởng trường-tồn,

  Không còn mắc nẻo dại-khôn luân-hồi.”

(Q.5, Khuyến Thiện)

Tóm lại, chúng sanh ở kiếp nầy, nơi nầy chết đi, rồi đầu thai sanh qua kiếp khác, nơi khác. Cứ thế mà lăn lộn xoay vần mãi trong ba cõi sáu đường, không thoát ra được.

Trong Kinh Lăng Nghiêm, Phật bảo:“Nhứt thiết chúng sanh từ vô thỉ dĩ lai, tánh tịnh minh thể, dụng chư vọng tưởng, thể tưởng bất chơn, cố hữu luân chuyển”.(Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay, sống chết trôi lăn đều do chỗ chẳng tỏ được cái chơn tâm thường trụ, thể tánh trong sạch, cứ dùng lầm theo vọng tưởng nên mới thành cái nghiệp sanh tử xoay vần mãi mãi). Trong Quyển 5 (Khuyến Thiện), Đức Thầy có nói:

“Chuyển luân trong nhơn vật các loài,

  Căn mờ ám làm điều dại dột”.

Do đó, muốn thoát khỏi luân hồi thì cần phải dứt được nghiệp chướng do dục giới mang lại; muốn thoát khỏi nó, theo Phật Giáo, chỉ có con đường Bát chánh đạo mới dẫn con người đến cõi Niết bàn.

Dù chưa giải thoát nhưng biết được lý luân hồi, khiến chúng ta sáng suốt và yên ổn trong đời sống này. Mọi tương lai đều nằm trong tay chúng ta, chúng ta trọn quyền chọn lấy một tương lai nào theo sở thích của mình.

Mục đích của đạo Phật là giải thoát chúng sanh khỏi vòng sanh tử luân hồi, tiến dần lên bốn bực thánh từ Thanh văn lên Duyên Giác rồi lên Bồ Tát và cuối cùng là thành Phật, một bậc hoàn toàn giác ngộ.

Ngoài ra, nhờ vào Pháp môn Tịnh độ, nếu chúng ta cứ nhất tâm tín, nguyện, phụng hành thì khi đến phút lâm chung Đức Phật A Di Đà và thánh chúng sẽ rước linh hồn chúng ta về nơi cõi Tây Phương Cực Lạc mà an dưỡng tu hành cho đến nơi đến chốn; đồng thời cũng thoát khỏi luân hồi lục đạo.

Hiện nay, có rất nhiều tài liệu ở Việt Nam cũng như báo chí ngoại quốc có đăng tin về những chuyện thuộc về luân hồi.

Thật vậy, trên thế giới ngày càng có nhiều nhà khoa học danh tiếng quan tâm nghiên cứu hiện tượng luân hồi chuyển kiếp, luân hồi đã được hiểu như là một sự thật khách quan không thể phủ nhận. Dưới đây là một số trong hàng ngàn nhà khoa học đã nghiên cứu và giải mã hiện tượng Luân hồi.

Đó là tiến sỹ Y khoa Ian Pretyman Stevenson (31/10/1918 – 82/2007), Giáo sư bác sỹ tâm thần học rất nổi tiếng, giảng dạy tại Đại học Virginia Hoa Kỳ. Ông từng là Giám đốc Ban Nghiên cứu Nhân cách, trưởng Bộ môn Nghiên cứu Tri giác tại Đại học Virginia, chuyên nghiên cứu các hiện tượng dị thường. Tiến sỹ Stevenson đã cống hiến cả đời mình để nghiên cứu sự luân hồi. Trong suốt hơn 40 năm, tổng cộng ông đã ghi nhận trên 3.000 trường hợp luân hồi tái sinh từ khắp nơi trên thế giới, và trình bày các bằng chứng một cách hệ thống, khoa học và hết sức chi tiết. Ông cũng đã xuất bản 10 cuốn sách và rất nhiều tài liệu nghiên cứu, phần nhiều trong số đó đã được các nhà nghiên cứu khác xem là kinh điển trong lĩnh vực nghiên cứu luân hồi.

Các nhà nghiên cứu trên thế giới thường xuyên trích dẫn các sách và bài viết của ông trong các ấn phẩm của họ. Chính sự nghiêm túc, tác phong thận trọng, và địa vị học thuật xuất sắc của Stevenson đã khiến ông cùng với các nghiên cứu của ông về sự luân hồi rất được xem trọng. Stevenson là tác giả của nhiều cuốn sách, trong đó có các tác phẩm “Hai mươi trường hợp gợi ý luân hồi” (1974), “Những đứa trẻ nhớ được tiền kiếp” (1987), “Luân hồi và Sinh học” (1997), và “Các trường hợp luân hồi của người châu Âu” (2003)… Năm 1960, ông đã xuất bản một tài liệu rất có giá trị và đoạt giải thưởng khoa học, có tựa đề “Bằng chứng về các ký ức tiền kiếp” trên Tạp chí Nghiên cứu tâm linh Hoa Kỳ. Bài viết này được xem là khúc dạo đầu cho các nghiên cứu hiện đại về sự luân hồi ở các nước phương Tây. Các trường hợp mà tiến sỹ Stevenson nghiên cứu tập trung vào những đứa trẻ nhớ được tiền kiếp một cách tự nhiên, không cần phải qua thôi miên. Trong mỗi trường hợp, ông ghi chép lại một cách hệ thống các lời nói và hành vi của đứa trẻ.

Sau đó ông cố gắng xác định người đã chết theo những gì mà đứa trẻ nhớ được. Rồi ông kiểm tra các sự việc từng xảy ra đối với người quá cố, để xác minh xem chúng có phù hợp với trí nhớ của đứa trẻ hay không. Sau khi sử dụng các phương pháp xác định gian lận để kiểm tra một cách kỹ lưỡng, ông ghi chép lại hồ sơ sự việc. Ông đặc biệt quan tâm đến các vết chàm và dị tật bẩm sinh (nếu có) ở trẻ mà phù hợp với các vết thương và vết sẹo trên người chết (có hồ sơ y tế xác nhận). Phương pháp mà ông áp dụng với hàng ngàn trường hợp là rất chặt chẽ và nghiêm ngặt.

Riêng ở Việt Nam, có chuyện ông Thủ Huồng, nay vẫn còn dấu tích ngôi chùa Chúc Thọ (còn gọi là chùa ông Huồng), ở thành phố Biên Hòa và địa danh Nhà Bè, phát xuất từ cuộc đời của ông, chuyện như sau: Ngày xưa, cách nay khoảng trên 300 năm, tại Cù Lao Phố có ông Võ Thủ Hoằng làm chức Nha lại, nổi tiếng giàu có nhờ cho vay tiền lấy lời nhiều. Vợ mất sớm, chưa con cái, cảnh quạnh hiu nên ông đi thiếp xuống Âm phủ. Trong lúc đi thiếp, dọc đường ông thấy có một cái gông thật lớn, hỏi người khác, họ cho biết gông ấy dành cho ông Thủ Huồng, vì ông ta ở dương trần làm nhiều điều ác đức. Nghe vậy sợ quá, ông ta hỏi thêm phải làm sao để khỏi bị đóng gông đó, người ta dạy là phải ăn hiền ở lành, tu nhân tích đức. Khi trở về dương gian, ông ta bèn lấy tiền của ra bố thí cho người nghèo. Thuở ấy không có tàu bè đi lại trên sông người ta chỉ di chuyển bằng ghe xuồng. Ở ngã ba sông Nhà Bè bấy giờ, không có nhà cửa chi nhiều, người dân mỗi khi cần đến gạo, nước ngọt, củi phải đi vào sông Sàigòn, đến Bến nghé (Gia định) mới mua được củi, gạo và xin nước ngọt. Thấy sự bất tiện đó, cực nhọc quá, ông ta mới làm một cái bè ở giữa ngã ba sông, trên ấy cất một cái nhà để sẵn gạo, củi, muối, nước ngọt cho những ai qua lại cần cứ lấy mà dùng, thứ nào hết ông cho người tiếp tế thêm. Nơi có cái nhà trên cái bè ấy, dần dần trở thành địa danh Nhà Bè cho đến ngày nay.

Sau một thời gian, ông ta lại đi thiếp, thấy cái gông đã nhỏ lại nhưng vẫn còn. Đã thấy kết quả như vậy, ông ta về dương thế lại đem hết của cải ra bố thí thêm và cất một ngôi chùa Phật, ngày nay vẫn còn, tên là Chùa Thủ Huồng, ở Cù Lao Phố, cách Cầu Gành chừng 2 cây số ngàn.

Một vị Thái tử của nhà Thanh bên Trung Hoa mới sanh ra trong lòng hai bàn tay có chữ "Thủ","Huồng", bên Tàu không hiểu nghĩa là gì. (Vì chữ Huồng là chữ Nôm, người Tàu đọc không được). Sứ Việt Nam được hỏi đến, chỉ biết đọc chữ "Thủ Huồng" nhưng cũng không biết ý nghĩa. Trở về Việt Nam, Sứ tâu lên vua, vua cho dò hỏi ra tông tích mới trả lời, đó là tên ông Thủ Huồng người Việt Nam đã chết, nay còn ngôi chùa ở đất Biên Hòa. Về sau vị Thái tử ấy lên ngôi là vua Đạo Quang, có ban cho chùa Thủ Huồng một bộ tượng Tam thế Phật bằng gỗ trầm hương, đến nay vẫn còn.

Chuyện nầy liên quan đến Lý Luân hồi, vua Đạo Quang kiếp trước chính là ông Thủ Huồng, đã tu nhân tích đức, nay đầu thai lại làm vua để hưởng phước, đồng thời cũng nói lên Lý Nhân quả vậy.

Cũng như cách đây mấy mươi năm, ở Thủ Ðức có một nữ Phật tử tu tại gia. Vì vợ chồng cô là tín đồ thuần thành, trọng Phật kỉnh Tăng, nên các sư thường đến ghé thăm, có khi được mời nghỉ đêm tại nhà.

Một hôm, có một vị Hòa thượng đến nghỉ đêm tại nhà cô, nửa đêm chợt thức giấc nghe tiếng động dưới bộ ván mình nằm, và có giọng nói nho nhỏ rằng: “Tụi bây không biết, chớ tao tên là Nguyễn Thị Hòa bởi có thiếu bà chủ nhà này một số tiền, nên phải đầu thai ra thân xúc vật để trả nợ”. Hòa thượng nghe xong lấy làm lạ, sẽ lén nhẹ nhàng cúi xuống rình xem, thì thấy một heo nái nói chuyện với mười hai heo con đang bú.

Sáng ra, Hòa thượng hỏi người tín nữ:

- Lúc trước có cô Nguyễn Thị Hòa thiếu cô một số tiền như thế, có phải không?

- Dạ thưa đúng như vậy. Nhưng cô ấy nghèo và bây giờ đã qua đời, nên con kể như bỏ luôn. Ủa! Mà chuyện này chỉ riêng mình con với cô ấy biết, ở nhà con cũng không hay, tại sao thầy lại hiểu rõ ràng như vậy?

Hòa thượng đem chuyện đêm hôm thuật lại. Cô chủ nhà cả kinh, vội đem bán heo mẹ lẫn mười hai heo con, thì thêm một việc lạ, số tiền thu được đúng với tiền cô Nguyễn Thị Hòa đã thiếu mình khi trước.

Trải qua sự này, cô tín nữ càng tin việc luân hồi nhân quả hiển nhiên là có thật. Từ đó cô tu hành thêm tinh tấn và sửa chữa căn nhà đang ở thành ra ngôi chùa Phước Trường hiện giờ. Tại chùa này, hiện nay linh vị thờ cô vẫn còn. Tiên đức đã bảo: “Súc sanh bản thị nhơn lai tố. Nhơn súc luân hồi cổ đáo kim!”

(Súc sanh kia trước là người.

Xưa nay người, súc luân hồi đổi thay!).

Việc trên đây là một chứng minh cho lời này vậy. Điều nầy, Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng cho biết:

                          “Khuyên trong sư vải mau mau tỉnh,

                           Luân-hồi quả-báo rất công bằng."

                                         (Khuyên Sư Vãi)

Kết luận: Lý Luân hồi sẽ giải đáp thỏa đáng vì sao người ta giàu, nghèo, sang, hèn..., khi đã hiểu Lý Luân hồi rồi, chúng ta không nên Chấp đoạn, chấp thường, mà nên tin giáo lý của Phật Giáo là chân lý:

- Nguyên nhân chính của sự luân hồi là do mê lầm, nó tác động nghiệp lực để dẫn dắt tái sanh.

- Con người sanh trong sáu đường là do nghiệp nhân mà thọ quả báo, lộn lạo trong sáu đường, có khi là người mà kiếp khác là sanh ở cõi khác, cho nên con người phải luôn luôn tu nhân, tích đức. Tự mình gieo nhân nào thì phải hưởng quả nấy, chẳng sớm thì chầy.

- Chúng ta đã biết Lý Luân hồi, chúng ta phải gìn giữ về tư tưởng, lời nói, hành động của mình luôn luôn được hướng thiện, khi nghiệp ác không còn, những quả lành đầy đủ, lúc bấy giờ chúng ta thoát khỏi luân hồi, sanh tử đạt đến cảnh giới Niết Bàn của A la hán, Bồ Tát và Phật.

Cuối cùng, chúng tôi xin trích dẫn một vài câu giảng từ quyển Sấm Truyền của Đức Phật Thầy Tây An có nhắc đến hai chữ Luân Hồi để mọi người cùng nhau suy gẫm:

- "Niên như điển, nguyệt như thoi.

Vần xây thế giái luân hồi chẳng chơi !"

- "Tứ sanh phân nói rõ ràng,

Noãn, Thai, Thấp, Hoá là phang luân hồi."

- "Tham lam, gian xảo vậy vay,

Ngục hình dành để đợi khi luân hồi."

- "Dị đoan án nội rõ ràng,

Diêm Đình tội để khó toan luân hồi."

- "Đêm ngày mụ tịt tối tăm,

Hồn sa phách lạc mới nên luân hồi."

 

                                                          Nam Mô A Di Đà Phật !

 

 

Comments