2011/08/10 - Nho Giáo trong Giáo lý PGHH

Nho Giáo trong Giáo lý PGHH

 

Theo Tôn chỉ “Học Phật Tu Nhân”, PGHH quan niệm rằng con người có vượt hơn người thường (siêu nhân) mới gọi là Phật Thánh. Cho nên Đức Thầy khuyên mọi người nên noi theo gương hạnh và lời chỉ giáo của các bậc Thánh Hiền (Khổng Mạnh) khi xưa để ăn ở đối xử cho tròn cái Đạo làm người. Đó là điều căn bản của mỗi tín đồ PGHH cần phải có.

Như mọi người đều biết, ở Á châu từ ngàn xưa đã có 3 nền Đạo lớn do 3 bậc Phật, Thánh, Tiên thành lập. Phật là do Đức Thích Ca, Tiên là do Lão Tử và Trang Tử, Thánh là do hiền nhân thánh triết Khổng Mạnh.

Ngày nay, Đức Huỳnh Giáo Chủ PGHH đã rút những tinh hoa của ba nền đạo giáo lý Phật, Thánh, Tiên ấy để giáo huấn môn đồ của Ngài:

“Phật Tiên Thánh lòng nhơn hà hải,

 Những ước ao thế giới hoà bình.

 Nên khuyên đời truyền bá sử kinh,

 Cho sanh chúng sửa mình trong sạch.”

                            (Q.4, Giác Mê TK)

hoặc là:
                      “Tu là tu Phật, tu Tiên,
               Tu cho rõ biết chữ Hiền ra sao."
                                     (Viếng làng Mỹ Hội Đông)

(Tu Phật là học theo hạnh Phật, Tu Tiên là nghe theo lời dạy bảo của Lão Trang, Tu Hiền là làm theo hạnh của Khổng Mạnh).

Trong phạm vi bài Góp Ý nầy, chúng tôi xin được trình bày về ảnh hưởng của Nho giáo trong Giáo lý PGHH, còn Kinh Luật Luận của Phật Giáo mà Đức Thầy đã “Rút trong các Luật các Kinh, Tùy lòng không ép làm in Giảng nầy” thì xin phân tích riêng vào bài Góp Ý khác.

Trước hết, Đức Thầy xác nhận THÁNH ĐẠO chính là Đạo của Thánh nhân, ở đây ám chỉ Nho Giáo hay Khổng Giáo một nền Đạo do Đức Khổng Tử san định có hệ thống, học thuyết kỷ cương. Sau đó môn đồ của Ngài và Mạnh Tử tiếp tục phổ truyền. Chủ yếu khuyên dạy người đời tu tròn “Nhân Đạo”, rèn luyện các đức tánh tốt đẹp, để trở thành bậc hiền nhân quân tử. Ngài từng khuyên:

“Khuyên trai gái học theo Khổng Mạnh,

 Sách Thánh Hiền dạy Đạo làm người.”

(Q.2, Kệ Dân của người Khùng)

Ngay ở điều răn thứ nhứt trong Tám điều răn cấm, Đức Thầy cũng căn dặn:“Ta chẳng nên uống rượu, cờ bạc, á phiện, chơi bời theo đàng điếm, phải giữ cho tròn luân lý tam cang ngũ thường.”

Nền luân lý Tam cang, Ngũ thường của Thánh nhơn xưa là giềng mối căn bản nhứt, các bậc Thánh triết đã truyền thừa qua nhiều thế hệ kế vãn khai lai, ảnh hưởng toàn cõi Trung Hoa lan dần qua Đông Nam Á, các bậc tiền nhân Việt Nam nhờ thấm nhuần giáo lý Khổng, Mạnh giữ vẹn nhân luân; phụng hành trung hiếu và giữ an bờ cõi một cách đắc lực.

TAM CANG: (Quân thần cang, Phụ tử cang và Phu thê cang). Ba giềng mối lớn, tức Vua tôi, Cha con, Chồng vợ. Người chưa có gia đình thì giềng thứ ba là Sư đệ (Thầy trò). Cách đối xử như thế nầy:

-Một công dân phải tận trung với Vua, sau nầy là Đất nước (Tổ Quốc).

-Con phải hiếu thảo với cha mẹ.

-Vợ chồng thì ân nghĩa song toàn.

-Thầy thì tận tâm dạy dỗ, trò phải hết dạ tôn kính phụng hành. Đức Thầy từng dạy:

“Rán giữ gìn luân lý tam cang,

 Tròn đức hạnh mới là báu quí.”

(Q.2, Kệ Dân)

Hay là:

       “Đạo tôi chúa chặt gìn câu chung thỉ,

Đạo thầy trò khắc cốt với ghi xương.

Đạo cha con chặt chẽ chữ miên trường,

Đạo chồng vợ thuận hòa cho đến thác…”

(Không Buồn Ngủ)

NGŨ THƯỜNG: Năm mối thường hằng, gồm có: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Đức Thầy có câu:“Ngũ luân lễ nghĩa năm hằng”.

Ngoài ra, người phụ nữ còn phải giữ cả Tam TùngTứ Đức. Tam Tùng là ba điều nên theo của hàng phụ nữ, hay là ba phận sự chánh thức của người đàn bà đối với gia đình. Theo Nho giáo:“Tại gia tùng phụ, xuất giá tùng phu, phu tử tùng tử”. Đức Thầy từng dạy:

“Nghe lời cha mẹ cân phân,

Tam tùng vẹn giữ lập thân buổi nầy.” (Q.3)

Và Tứ Đức là: Công, Ngôn, Dung, Hạnh. Những việc lễ nghĩa, đạo đức thường hằng nầy, Đức Thầy vẫn thường xuyên nhắc nhở và dạy bảo:

“Đi thưa về cũng phải trình,

Công, dung, ngôn, hạnh, thân mình phải trau.

Công là phải sửa làm sao,

Làm ăn các việc tầm-phào chẳng nên.

Mình là gái mới lớn lên,

Đừng cho công việc hớ hênh mới là.

Chữ dung là phận đàn bà,

Vóc hình tươi-tắn đứng đi dịu-dàng.

Dầu cho mắc chữ nghèo nàn,

Cũng là phải sửa phải sang mới mầu.

Ngôn là lời nói mặc dầu,

Cũng cho nghiêm-chỉnh mới hầu khôn-ngoan.

Đừng dùng lời tiếng phang ngang,

Thì cha với mẹ mới an tấm long.

...Hạnh là đức tánh phải không ?

Ở cùng chòm-xóm đừng cho mất lòng.”

                                     (Q.3, Sám Giảng)

Ngoài ra, rải rác trong các quyển Sấm Giảng và Thi Văn Giáo Lý của Đức Thầy, LỜI THÁNH HIỀN đã được nhắc nhở rất nhiều nơi, nhiều lúc.

LỜI THÁNH HIỀN ở đây chỉ cho lời giáo huấn của Đức Khổng Tử và các bậc Thánh Triết Hiền Nhân thuộc môn đồ kế truyền Đạo lý của Ngài. Những lời lẽ ấy gồm trong Ngũ Kinh: Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu và Tứ truyện (Tứ thơ: Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử.) Tôn chỉ gồm 8 chữ:“Hiếu, Đễ, Trung, Thứ, Tu, Tề, Trị, Bình”. Trong đó biết bao lời lẽ chỉ dạy con người tu tập theo để trở nên bậc Thánh Hiền như các Ngài: “Trung dung khuyên đó noi gương Khổng” (họa lại bài xướng của Ô. Nguyễn Thanh Tân) hoặc trong “Nang Thơ Cẩm Tú”, Đức Thầy có nói:

“Lời Thánh Hiền để lại biết bao,

 Sao trai gái chẳng coi mà sửa.”

Hay:

“Chữ Thánh Hiền mới được nôm na,

 Ta thỏa chí hô hào Trung nghĩa.”

Riêng về bậc Thánh Hiền tức là bậc Thánh và bậc Hiền, theo Nho học cho rằng trong nhân loại có ba hạng người: Sinh nhi tri (không học mà biết) đó là bậc Thánh nhân. Học nhi tri (có học thì biết) đó là bậc Hiền nhân. Học nhi bất tri (học mà vẫn không biết) đó là người ngu muội.

Sau đây, chúng tôi xin trưng dẫn một vài quyển sách Thánh Đạo thông dụng hoặc những câu nói “để đời” của bậc Thánh Hiền mà Đức Thầy đã ứng dụng vào Giáo lý của Ngài:

- TAM TỰ KINH của Vương Ứng Lân dùng để dạy cho học sinh mới đi học, là tập hợp tinh hoa của Nho giáo. Sách viết với lối văn mỗi câu ba chữ. Khởi đầu bằng những câu:“Nhơn chi sơ, tánh bổn thiện, tánh tương cận, tập tương viễn, cẩu bất giáo, tánh nãi thiên…”(Con người từ thuở sơ khai tâm tánh vốn hiền lành, song vì sanh ra và lớn lên, lần lần tập nhiễm mọi tánh xấu xung quanh, nếu thiếu giáo dục tánh thiện ấy bị đổi dời theo các thói xấu). Điều nầy, Đức Thầy có giải:

                        “Sách Thánh Đạo ghi trong Tam Tự,

Người mới sanh tánh thiện Trời dành.

Bởi lớn lên tập nhiễm lợi danh,

Nên tật xấu che mờ thiện tánh.”

(Quyển 4, GM Tâm Kệ)

- SÁCH MINH TÂM: Quyển sách viết bằng chữ Hán, thâu lượm trong các sách thời xưa mà kết tập lại, nhan đề là “Minh Tâm Bửu Giám”. Có nghĩa: tấm gương quí báu, sáng sủa để soi tỏ lòng người. Giảng xưa có câu:“Minh Tâm là sách Hớn đàng, Hiếu chỉ rõ ràng sao chẳng học coi ?” Còn Đức Thầy thì khuyến khích:

                        “Nên khuyên đời truyền-bá sử-kinh,

Cho sanh-chúng sửa mình trong sạch.

Giàu đổi bạn khinh-khi kẻ rách,

Là những câu trong sách Minh-Tâm.

Tánh kẻ sang đổi vợ nào lầm,

Thánh-nhơn để nhiều câu hữu-lý.”

Hay là:

“Thánh Nhơn ghi sách Trung Dung,

Hiền nhơn thức tỉnh biết dùng người ngay.”

                                        (Viếng làng Mỹ Hội Đông)

Trong Minh Tâm Bửu Giám còn có câu:“Nhơn gian tư ngữ Thiên văn như lôi, Ám khuất khuy tâm Thần mục như điển.” Nghĩa là: Việc đối xử giữa anh em cần biết kính thuận lẫn nhau, tình nghĩa luôn đậm đà thương mến, không nên vì hoàn cảnh riêng tư, hay sang hèn mà thay lòng phụ nghĩa. Tuy là trời đất mênh mông, nhưng lời nói riêng của mỗi người trong thế gian, Trời nghe như sấm nổ, còn lòng tính quấy trong nhà kín, song mắt của Thần Thánh thấy rất rõ ràng:

“Anh em đừng có đổi dời,

Phụ-phàng dưa muối xe lơi nghĩa-tình.

Tuy là Trời đất rộng thinh,

Có Thần xem xét phân minh cho người.”

(Q.3, Sám Giảng)

-Sách Quảng Hiền Văn: Có câu:“Cận thủy tri ngư tánh, cận sơn thức điểu âm” (Gần nước biết tánh cá, gần rừng núi biết tánh chim). Ý nói người ở giới nào thì từng trải việc của giới đó. Ví như hành nghề ngư nghiệp thì biết tánh cá, còn thợ săn thì biết rõ tiếng chim kêu và chỗ ăn ngủ của loài chim. Đức Thầy cho biết việc Đạo đức cũng thế, có tìm cầu tu học, và có gần gũi Thầy hay bạn tu hành mới mong thâm nhập Giáo lý:

“Lời sách xưa cận thủy tri ngư,

 Cận sơn lãnh, trần gian tri điểu.”

- Kinh Thi có câu:“Phụ hề sanh ngã, mẫu hề cúc ngã, ai ai phụ mẫu sanh ngã cù lao. Dục báo thâm ân hạo thiên võng cực”.(Cha mẹ sanh đẻ và nuôi ta khôn lớn, lòng thương cha mẹ dày công khó nhọc ! Muốn đáp ơn sâu như trời cao chẳng cùng).

Lại có câu “Cửu tự cù lao”(chín chữ cù lao): Sinh (sanh đẻ), Cúc (nâng đỡ), Phủ (vuốt ve), Xúc (cho bú), Phục (săn sóc), Phúc (bảo vệ), Trưởng (nuôi cho lớn), Dục (dạy dỗ), Cố (trông nom).

Bởi công ơn cha mẹ sâu dày như vậy, nên Đức Thầy thường nhắc nhở:

“Sách có chữ thâm ân dục báo,

 Phận làm người hiếu thảo noi gương.”(Sa Đéc)

Hoặc là:

“Lo bề cúc dục cội thung,

Nghe lời thầy dạy việc chung của đời”.

(Viếng Làng Mỹ Hội Đông)

Và:

“Bốn điều nếu đã làm xong,

Cũng gìn chữ hiếu phục tòng song thân.”(Q.3)

Bởi vì:

“Phận làm người hiếu thảo noi gương,

 Ấy chẳng qua là đạo luân thường.”

Chữ HIẾU còn thể hiện nơi lòng ân cần tôn kính, bảo dưỡng và vâng lời khuyên răn của cha mẹ. Kinh Minh Thánh dạy:“Hiếu tử chi sự thân: Cư tắc chí kỳ kính, dưỡng tắc chí kỳ lạc, bệnh tắc chí kỳ ưu, Tang tắc chí kỳ ai, tế tắc chí kỳ nghiêm. Cố bất ái kỳ thân, như ái tha nhân giả, vị chi bội đức.” (Người con hiếu thờ cha mẹ: Lúc ở thì tôn kính rất mực, khi nuôi phải vui hết mực, khi bệnh phải lo lắng hết mực. Khi chịu tang phải buồn hết mực, khi tế thì nghiêm trang hết mực. Cho nên không yêu cha mẹ mà yêu người ngoài, gọi là trái đức).

- Sách Liên Tông Bửu Giám cũng bảo:“Hiếu dưỡng bách hạnh vi tiên; Hiếu tâm tức thị Phật tâm; Hiếu hạnh vô phi Phật hạnh. Dục đắc Đạo đồng chư Phật, tiên tu hiếu dưỡng nhị thân.” (Điều hiếu dưỡng là đứng đầu trăm hạnh, tâm hiếu thảo tức là tâm Phật; hạnh hiếu đâu chẳng là hạnh của chư Phật. Vậy muốn đắc Đạo cũng như chư Phật, trước hết khá nên hiếu dưỡng song thân).

Đức Thầy nay cũng hằng dạy:“Hiếu hạnh gìn lòng chí ư Thiên.”(Hai Mươi Chín Tháng Chạp). Và:

“Nhơn sanh hiếu nghĩa dĩ vi tiên,

 Hành thiện tri Kinh thị sĩ hiền.”

                        (Hiếu Nghĩa Vi Tiên)

- Sách Đại Học dạy:“Tự Thiên tử dĩ chí ư thứ nhân, nhứt thị giai dĩ tu thân vi bổn.”(Từ Vua quan cho đến thứ dân, ai nấy phải lấy sự sửa mình làm gốc).

Thật vậy, đạo Thánh thường cho rằng trước khi “trị Quốc, bình Thiên hạ”, thì Tu thân phải là việc hàng đầu của mỗi con người.

TU THÂN: là sửa mình, là sửa bỏ những điều tội lỗi xấu xa: sát sanh, đạo tặc, tà dâm…và làm những điều lương thiện, tốt lành. Ngày nay, Đức Thầy cũng dạy:

“Tu thân thiện tín rán chuyên cần,

  Lục tự Di Đà giữ Tứ ân.”

(Nhẫn Đợi Thời Cơ)

Câu sách: “Chánh kỷ dĩ giáo nhân giả thuận, thích kỷ dĩ giáo nhân giả nghịch.” (Người lo tu thân xử kỷ cho đúng rồi mới dạy đời là lẽ thuận. Còn kẻ bỏ mình không lo tu sửa lại đi dạy đời là lẽ nghịch vậy). Do vậy, Đức Thầy nhắc nhở:

“Sợ nhiều kẻ dạ buồn đổi chí,

 Quên những câu chánh kỷ hóa nhơn.”

(Thiên Lý Ca)

Hoặc do câu Thành ngữ mà người xưa thường dùng “Tiên xử kỷ nhi hậu xử bỉ”. Có nghĩa trước phải tự xét xử phê phán việc của ta, rồi sau mới xét xử bình phán việc của người. Kinh Phật Giáo cũng có câu:“Chánh kỷ dĩ giáo nhân giả thuận, Thích kỷ dĩ giáo nhân giả nghịch.”(Giữ mình ngay chánh rồi dạy người là điều thuận lý; còn tự bỏ mình, buông lung mà đứng ra dạy người là điều nghịch lý). Đức Thầy nay cũng cảnh tỉnh những người không biết xử kỷ:

“Tiên xử kỷ hậu lai xử bỉ,

 Bắt lỗi người phải xét lỗi mình.”

                            (Q.4, Giác mê)

Sách Thánh có câu:“Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện.” (Đạo của bậc đại học, cốt làm sáng cái đức của mình, rồi làm cho dân được mới và đạt đến chỗ trọn lành)

Từ Thánh ý nầy, Đức Thầy có dạy:

“Sách có câu “Minh đức tân dân”,

 Được thủ trụ huyền khai nhứt khiếu.”

(Sa Đéc)

Sách Thánh có câu: “Lập thân hành đạo dương danh ư hậu thế dĩ hiển kỳ phụ mẫu hiếu chi chung giả”.(Đã mang thân con người thì phải lo tu tập cho nên danh phận với đời). Đức Thầy luôn nhắc nhở môn đồ:

“Bạch trinh giữ lấy nghĩa nhân,

 Muốn về cõi Phật lập thân cõi trần.”

Mạnh Tử có dạy:“Ai tai ! Nhơn hữu kê khuyển xả nhi tắc tri cầu chi, hữu phóng tâm nhi, bất tri cầu.” (Thương thay! Người đời mất những vật nhỏ mọn như gà, chó…chẳng xứng đáng chi mà còn biết đi tìm, còn cái tâm là vật quí giá mà người đời lại không biết tìm cầu). Cho nên Ngài bảo:“Học vấn chi đạo vô tha, cầu kỳ phóng tâm nhi dĩ hỷ.” Từ vô thỉ mỗi chúng sanh đều có tánh hiền lành như nhau cả, song vì vọng niệm mê lầm mà phải luân hồi sanh tử. Từ đó, tâm tánh bị chôn vùi dưới lớp vô minh phiền não, nên gọi là che mờ.

Hôm nay, “…quyết nhắc lại tánh xưa”, Đức Thầy bảo mỗi người hãy cố tìm lại Phật tánh (cái tâm tánh vốn lành của mình khi trước) như trong bài “Đến Làng Nhơn Nghĩa”:

“Nhàn thanh tìm kiếm, kiếm nơi tâm,

 Phật cũ ngày xưa hãy rán tầm.”

Để nhắc nhở chúng ta về luật Nhơn quả, Lão Tử có nói:“Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu.” (Lưới trời lồng lộng, thưa mà khó lọt). Nghĩa rộng là luật trời hay luật nhân quả. Ý nói người làm lành hay dữ đều có kết quả không hề sai chạy. Sách Thánh còn có câu:“Thiên võng khôi khôi phân khúc trực, Thần linh hích hích định khuy vinh.” (Lưới Trời lồng lộng chia ngay vạy, Thần linh tỏ xét việc đầy vơi).

Đức Thầy nay cũng bảo:“Cả trời Nam lưới bủa thiên la.” (Nang Thơ Cẩm Tú) hoặc là:“Trốn người khỏi trốn trời sao khỏi.” (Q.5, Khuyến Thiện) Hay là:

“Luật nhơn quả thật là cao viễn,

 Suốt cổ kim không lọt một ai.”

hoặc:

“Đến chừng đó thiên la lưới bủa,

 Mới biết rằng Trời Phật công bằng.” (Q.2)

Tóm lại, ngoài việc “Rút trong các Luật các Kinh:” trong hằng hà sa số Kinh điển của Phật Giáo, Đức Thầy còn trích dẫn và diễn dịch rất nhiều điều hay lẽ phải trong Nho Giáo đem vào Giáo Lý của Ngài để khuyên dạy người tín đồ trở nên người hiền, có Đạo đức và nhất là có ích lợi cho nhân quần xã hội.

Có thể nói đây là dụng ý của Đức Thầy khi dùng tinh hoa của Nho giáo để hướng dẫn tín đồ của Ngài vào con đường Đạo đức. Bởi vì dân tộc Việt Nam từ xưa đã quen biết nhiều với đạo lý Khổng Mạnh rồi, chúng ta không còn lạ lùng gì mấy khi bước vào cửa Đạo để đi từ gần đến xa, hầu có làm tròn đạo tu Nhân trong Pháp môn thích ứng là tu Nhân học Phật.

Điều nầy đã khiến cho Giáo Lý PGHH có một giá trị tuyệt vời, không thua kém bất cứ Giáo lý của một Tông phái nào có mặt trên Thế giới. Đặc biệt, Giáo lý PGHH đã mang lại nhiều thành tựu viên mãn cho bất cứ ai hằng quan tâm nghiên cứu và tu hành theo Giáo lý siêu mầu nầy. Đây quả là thần dược nhiệm mầu có thể điều trị tất cả căn bệnh hiểm nghèo của hạng người căn cơ thiển bạc, phước mỏng nghiệp dầy trong thời kỳ Hạ nguơn Mạt pháp nhưng muốn có mặt trong ngày Long Hoa Đại Hội hoặc muốn được Giải thoát (nhập Niết Bàn) hay Vãng sanh về miền Tây phương Cực Lạc./.

 

Nam mô A Di Đà Phật !

 

Comments