2012/04/22 - Tại sao ta phải tu ?

TẠI SAO TA PHẢI TU ?

 

Giác Mê Tâm Kệ là quyển thứ Tư mà Đức Huỳnh Giáo Chủ đã sáng tác vào ngày 20 tháng 9 năm Kỷ Mão (1939), lúc Ngài còn ở Tổ Đình Thánh Địa Hòa Hảo.

Theo Từ điển Phật học, Giác Mê là tỉnh biết sáng suốt, hết mê lầm. Tâm Kệ là quyển Kệ dạy hành giả tu ngay Tâm để kiến tánh thành Phật.

Vì vậy ý nghĩa của quyển Giác Mê Tâm Kệ nầy là Đức Huỳnh Giáo Chủ muốn khuyên dạy tín đồ các phương pháp sửa đổi tâm chúng sanh để trở thành tâm Phật. Bởi Phật hay chúng sanh cũng do tâm mình tạo nên, như Ngài đã bảo:

             “Cái chữ tâm mà quỉ hay ma,

              Tiên hay Phật cũng là tại nó.

              Tu với tỉnh biết làm chẳng khó,

              Nếu lặng tâm tỏ ngộ đạo mầu”.

Nội dung của quyển nầy, trước hết Đức Thầy nhắc lại Đức Thích Ca xưa kia vì nghiệm xét bốn nỗi khổ của mỗi chúng sanh, nên lìa bỏ đền đài, vợ đẹp, con ngoan để ra đi tầm Đạo cứu đời. Ngày nay Đức Thầy khuyên các giới nhân sanh hãy noi theo gương ấy mà giác tỉnh tu hành. Sau đó, Ngài chỉ dạy người tu hành phương cách lánh xa lối sống đam mê trụy lạc, tức Tửu Sắc Tài Khí và chiến thắng Tam bành Lục tặc; lấy Tâm làm chủ Lục căn đừng để ô nhiễm Lục trần. Đồng thời hãy nghiệm xét Tứ Diệu Đề, trì hành Bát Chánh Đạo, chuyên hành Bát Nhẫn và phá tan Ngũ Uẩn để đạt đến lý “sắc không”, Chân Như Thật Tướng.

Đặc biệt, có hai câu giảng sau đây đáng để chúng ta suy gẫm, nhất là cho những người đang chập chững bước vào nẻo Đạo:

“NHÌN PHẬT GIÁO MÀ TÌM CÁI LÝ,

COI TẠI SAO TA PHẢI TU HÀNH”

Đại ý hai câu nầy, Đức Thầy có ý khuyên mỗi người hãy nhìn sâu vào Giáo lý của nhà Phật để tìm hiểu coi do đâu mà ta phát tâm tu hành ? (Cái lý ở đây tức là Giáo lý của nhà Phật, cũng có thể là Lý do tại sao phải tu hành).

        Thấy rằng, xưa nay số người tu hành rất đông, nhưng trường hợp phát tâm thì ít ai giống ai, xét bởi cơ duyên và trình độ chẳng đồng nhau. Song căn cứ vào Giáo lý của Đức Phật trước đây và của Đức Thầy sau nầy, chúng ta có thể đại lược một ít lý do chánh như sau:

        1/- Vì muốn cứu khổ vạn loại chúng sanh:

Bởi lòng từ bi, thấy chúng sanh mãi luân chuyển trong biển trần thống khổ, nên các bậc đại căn đại trí, phát tâm tìm Đạo để giải khổ cho muôn loài. Như trường hợp Đức Phật Thích Ca cùng chư Bồ tát trước kia. Cũng như Ngài Kim Sơn Phật hiện nay cho biết:“Tu hành tầm Đạo một mai cứu đời”.(Sám Giảng Q.3)

        Thật vậy, trong quyển Khuyến Thiện, Đức Thầy có lược kể về lịch sử Đức Phật Thích Ca tầm Đạo như sau:

        Đức Phật Thích Ca tên tục là Sĩ Đạt Ta, họ Thích Ca, vốn là dòng dõi đại quí tộc ở thành Ca Tỳ La Vệ bên Ấn Độ. Phụ thân của Ngài là vua Tịnh Phạn, còn mẹ Ngài là bà hoàng hậu Ma Da phong nhã. Ngài đản sanh nhằm ngày mùng Tám tháng Tư âm lịch (trước Chúa Jêsu giáng sanh 624 năm), tính đến nay đã trên 2.550 năm.

Khi Thái Tử lớn lên, vua Tịnh Phạn nhớ lại lời của ông A Tư Đà cho biết lúc trước, nên ông rất lo sợ Thái Tử đi tu, mới nghĩ ra một cách: bày ra những cuộc vui thú làm cho Ngài say đắm mà quên đi việc xuất gia.

Đến khi Thái Tử lên 16 tuổi, Vua cha hội các quần thần chọn lựa được nàng Du Gia (Da Du Đà La) thành hôn cho Ngài. Sau đó, Bà sanh được một người con trai tên là La Hầu La.

Một hôm, Thái Tử đến xin Vua cha cho ra thành dạo chơi. Đức vua Tịnh Phạn mặc dù lúc nào cũng sợ Thái Tử thấy cảnh khổ của đời mà đi tu, song vì lòng quá thương con nên ông đành chấp thuận.

Ngày đầu, Thái Tử gặp một ông già tóc bạc da nhăn, lưng cong gối mỏi, mắt lờ tai điếc, tay chân run rẩy. Thấy thế, Ngài lấy làm đau lòng lắm.

Đến lần thứ hai, Ngài gặp người bịnh, mày mặt bủng beo, da thịt èo uột, ăn uống không được nên rất ốm yếu. Khi ấy thì Ngài lại càng đau đớn nhiều hơn nữa .

Đến lần thứ ba, Ngài lại gặp một người chết đang được khiêng đi, những thân nhân quyến thuộc theo đưa khóc lóc vô cùng thảm thiết. Ngài quay lại hỏi người đánh xe:“Những cái già, cái bịnh và cái chết đó có ai tránh khỏi không?” Người đánh xe trả lời:“Con người sanh ra lớn lên đều phải có già, bịnh và chết; ngay như Điện hạ cũng không tránh khỏi cảnh huống ấy nữa”. Nghe người đánh xe trả lời thế, Ngài rất buồn bã và hiểu ngay sự thống khổ của thế gian, dù bực Thiên tử cao sang sung sướng thế mấy đi nữa, đến ngày kia cũng phải già, bệnh, chết; thân họ rã ra bùn ra đất, chẳng được bền bỉ. Ngài rất chán ngán cho thân mộng huyễn vô hồi .

Đến lần thứ tư, Thái Tử lại gặp vị Sa môn, vẻ người khoan nhã, dung dáng rất đoan nghiêm, không lộ chút gì tư lự. Ngài lấy làm kính mến và hỏi :"Ngài là ai ?" Vị sa môn đáp:"Tôi là người thoát khỏi cảnh già, bịnh, chết, bởi tôi không còn luyến ái việc gì cả". Thái Tử đang tìm cách để giải thoát cảnh ấy, được nghe vị Sa môn nói thế khiến lòng Ngài khôn xiết vui mừng và Ngài hiểu rằng:“Nếu muốn khỏi mọi thống khổ thì phải mau xuất gia tầm Đạo”. Ngài liền chào vị Sa môn và bảo tên xa nặc đánh xe về. (Bởi vì cơ hóa độ của Đức Phật đã đến, nên Trời Đế Thích hóa ra vị Sa môn để thức tỉnh, khiến Ngài sớm đi tu để độ chúng sanh).

Về đến thành, Thái Tử đi ngay tới Phụ vương là vua Tịnh Phạn, xin Phụ Hoàng cho phép Ngài đi tu; vua Tịnh Phạn hoảng lên và khóc lóc bảo Thái Tử ở lại nối nghiệp trị vì thiên hạ, sau sẽ tu không muộn gì. Thái Tử tâu rằng:“Nếu cha có phép gì làm cho con đừng già, đừng bịnh, đừng chết, và cứu vớt các thống khổ của chúng sanh, thì con sẽ ở lại nối nghiệp cha, lo bề chăn dân trị quốc”. Lời yêu cầu ấy, vua Tịnh Phạn không thể làm cách nào được và mặc dù ông hết lòng ngăn cản, nhưng:

                  “Lòng Thái Tử quyết theo ý muốn,

                   Thừa đêm khuya lén trốn vào rừng.

               Lìa cha già, vợ đẹp, con cưng,

              Thân chẳng sá xông pha bờ bụi.

              Ngài thuở ấy nên mười chín tuổi…”

Rồi Ngài đến bên bờ sông Ni liên thuyền, thấy phong cảnh rất tốt đẹp nên Ngài ngồi lại đấy suốt 6 năm tu khổ hạnh. Sau thời gian 6 năm nơi ấy, thân thể Ngài chỉ còn da bọc xương nên cuối cùng té xỉu vì kiệt sức. May thay! nhờ được một thiếu nữ dâng sữa nên Ngài tỉnh lại và quyết định ăn uống bình thường chớ không ép xác, hành thân nữa. Sau khi đến gốc cây Bồ Đề ngồi tham thiền, Ngài thề rằng: “Nếu ta không thành đạo chứng quả thì trọn đời quyết không rời khỏi cây Bồ Đề nầy.” Ngài ngồi tại đây được 49 ngày thì vào đêm mùng 7 rạng ngày mùng 8 tháng Chạp hoát nhiên có đầy đủ thần thông kể từ lúc sao mai mọc, tức Ngài đã thành Phật, hiệu là Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 Được biết lúc Phật gần thành đạo thì trong rừng gần đó có Ma Vương tên Ba Tuần đoán biết Ngài sẽ đắc đạo. Nó sợ khi Ngài đắc đạo thì đạo của nó không còn ai theo nữa nên tìm đủ mọi cách để ám hại hoặc thuyết phục Ngài. Nhưng tất cả ma thuật đem ra thi thố đều bị Ngài hóa giải. Từ đó lũ Ma Vương không còn phá khuấy nữa.

Sau 6 năm tu hành, Thái Tử thành Phật nhưng Ngài chưa đi truyền giáo vội, vì xét rằng Phật pháp cao siêu mầu nhiệm vô cùng vô tận, e truyền ra chúng sanh không hiểu đem lòng nghi ngờ, phỉ báng sẽ có tội nặng. Do đó chờ thêm 6 năm nữa, chừng khi quán rõ căn cơ của chúng sanh rồi, Ngài mới đứng ra phương tiện ứng dụng giáo pháp thích trung để hoằng độ chúng sanh.

Khởi đầu bước đường truyền Đạo, Ngài thân hành đến vườn Lộc Giả giáo độ năm anh em Kiều Trần Như. Khi đến đó Ngài thuyết pháp Tứ Diệu Đế làm cho mấy ông nầy tỏ ngộ và chứng quả A-La-Hán. Bắt đầu từ đó ngôi Tam bảo có đủ: Phật, Pháp, Tăng. Và cũng từ đó Phật đi nước nầy, đến nước khác để cứu độ những hạng vua, quan, và dân tỉnh ngộ, không thể lường được. Sau 49 năm hành Đạo, Ngài nhập Niết Bàn nhằm ngày Rằm tháng hai, vào lúc 80 tuổi. (Điều đặc biệt là Đức Phật đản sanh bên cạnh cây Vô Ưu, đắc đạo dưới cội Bồ Đề và nhập niết bàn giữa hai gốc cây Sa La).

Tóm tắt, từ khi Thái tử Sĩ Đạt Ta xuất gia tầm đạo (năm 19 tuổi) cho đến khi đắc quả, thì gồm cả một tấm gương đại từ bi, đại hùng, đại lực. Đại từ là Ngài đem lại sự an vui cho chúng sanh, Đại bi là Ngài thương yêu tất cả chúng sanh, quyết tu chứng quả, tìm được pháp môn để cứu chúng sanh khỏi vòng tứ khổ. Đại lực là Ngài thắng phục Ma Vương không để chúng nó quyến rũ. Đại hùng là Ngài lìa cha già, vợ đẹp, con xinh, không màng ngai vàng điện ngọc, châu báu; và hy sinh bao nhiêu sự vui sướng để tu hành suốt 12 năm. Khi đắc đạo Ngài không nỡ vội nhập Niết Bàn, vẫn trụ thế 49 năm trời, lê chơn khắp xứ nầy, nước nọ đem Chánh pháp nhiệm mầu truyền dạy chúng sanh hiểu rõ kiếp đời giả tạm, tỉnh giấc mê lầm, nhờ đó mà chúng sanh thoát khỏi quả khổ hại và chứng quả giải thoát rất nhiều.

Nhắc đến chuyện Đức Thích Ca tầm Đạo, có nghĩa là Đức Thầy muốn chúng ta nên noi theo gương hạnh ấy mà phát tâm tu hành theo Giáo lý do Đức Phật khổ công tầm kiếm, như lời Ngài nhắc nhở trong bài “Luận việc Tu hành”:

“Bác ái xả thân tầm Đạo chánh,

 Độ người lao khổ dạ không phiền.

 Mình vàng Thái Tử ngôi còn bỏ,

 Vóc ngọc Đông cung tước phế liền.

 Xem đó hỡi người mau lập chí,

 Tu hành khá nhớ giữ cho nguyên.”

2/- Vì có duyên lành gặp được Phật pháp:

Bởi có gieo sâu duyên lành với Đạo pháp trong nhiều tiền kiếp, nên kiếp nầy vừa nghe được lời Sấm kinh là chúng ta phát tâm tu niệm. Ví như có hột giống sẵn, hễ gặp mưa thì nứt mầm đâm tược:

                Duyên lành rõ được Khùng Điên,

                 Chẳng qua kiếp trước thiện duyên hữu phần”.

                                (Viếng làng Mỹ Hội Đông)

        Hay:

                  “Xem KỆ nầy như ngọc như ngà,

 Phải nảy nở như cơn mưa thuận.

 Hạp mùa tiết giống kia bất luận,

Thảy mọc mầm trổ lá mới mầu.” (Quyển 4)

        Điều nầy có thể giải thích tại sao chỉ trong một thời gian ngắn mà có đến hơn hai triệu người dân miền Nam Việt Nam quy ngưỡng, tu hành theo Giáo lý của Đức Thầy và con số nầy ngày càng gia tăng, bất chấp sự thăng trầm của đất nước và sự truân chuyên của nền Đạo. Đặc biệt, Giáo lý PGHH ngày nay còn được phát khai khắp nơi trên toàn thế giới như lòng Ngài mơ ước:

                “Ước mơ Thế Giới lân Hòa Hảo,

 Nhà Phật con Tiên hé miệng cười.”

        Hay:

                “Mảng chờ trông Thế Giới thảnh thơi,

                  Khắp bốn biển liên dây Hòa Hảo.” 

        3/- Vì tin nơi luật Nhân quả:

Bởi nhận xét sự trả vay của luật nhân quả rất nghiêm minh, hễ gieo giống chi tất hưởng trái nấy; mọi cuộc sống sang hèn vui khổ trên đời, đều do nghiệp nhân của mỗi người đào tạo vừa qua mà bây giờ nó trả lại:“Trồng bông kiểng giống chi hưởng nấy”.(Q.4, Giác Mê Tâm Kệ) Và:

                  Luật nhân quả thật là cao viễn,

                    Suốt cổ kim chẳng lọt một ai”.

(Khuyến Thiện, Q.5)

        Do đó chúng ta phải cải ác tùng thiện, làm lành lánh dữ và hành trì Giới luật để hưởng được quả lành trong mai hậu. Trong “Những điều sơ lược cần biết của kẻ tu hiền”, đặc biệt cho hạng tại gia Cư sĩ, Đức Thầy có giải thích: “Tuy vậy, họ cũng sẵn sàng hoan nghinh ca tụng lý tưởng từ bi bác ái đại đồng của nhà Phật và Luật Nhân Quả do Phật thuyết ra. Thế nên ở tại nhà, họ phượng thờ Đức Phật, phát nguyện Quy y, giữ gìn ít điều Giới luật, hằng coi Kinh sách, sửa tánh, răn lòng, ủng hộ các sư. Như thế họ cũng lần lần lên con đường Giải thoát.”

        4/- Vì nghĩ đến nỗi khổ của xác thân:

Xét thấy xác thân là nguyên nhân của Tứ khổ, hễ có sanh ra tất có già, bịnh, chết và mọi sự ái ân phiền não ràng buộc không ngừng. Khi chết đi chưa phải là hết khổ, thần thức phải tùy theo nghiệp lực, mà tạo thành thân chúng sanh khác, để rồi tiếp tục chịu khổ. Vì thế chúng ta mới phát tâm tu hành để thoát khỏi cảnh luân hồi sanh tử:

                “Khuyên chúng sanh khuya sớm chuyên cần,

        Tìm nguồn cội diệt trừ Tứ Khổ. 

         Bịnh với Tử từ kim chí cổ,  

         Sanh với Già hai chữ hoài hoài.

        Đức Thích-Ca xưa ở lầu đài,

        Nghiệm Tứ-Khổ nên Ngài tầm Đạo.”(Q.4)

Đức Ngũ Tổ từng bảo hàng môn nhơn đệ tử:"Người đời sanh tử là việc lớn, các ông trọn ngày chỉ cầu phước điền, chẳng cầu ra khỏi biển khổ sanh tử, tự tánh nếu mê thì phước nào có thể cứu được?”

Đối với cảnh giả tạm đau khổ nầy, là có Niết Bàn, Cực lạc. Thân người ở cõi ấy:“Không già không bịnh chẳng ngày nào lo”.(Từ giã làng Nhơn Nghĩa) và an lạc đời đời miên viễn. Đức Thầy hằng mong đợi mọi người khi xem Kệ Giảng, hãy sớm nghĩ suy cạn lẽ để thấy rằng: đối với cõi Ta bà thống khổ, chỉ có cõi Cực lạc là nơi an vui trường cửu:

                 Ta bà khổ, ta bà lắm khổ,

                  Có bao người xét cho tột chỗ.

                  Tịnh độ vui, tịnh độ nhàn vui,

                  Cảnh thanh minh sen báu nặc mùi,

                  Nào ai rõ cái vui triệt đáo”.

        (Khuyến thiện, Q.5)

        Nhân đó, Ngài khuyên chư thiện tín, nên nhứt tâm niệm Phật làm lành, tức tu theo pháp môn Tịnh Độ để được vãng sanh về Lạc Quốc.

5/- Vì tin sự chuyển biến của lý Tam nguơn:

Bởi nhận xét quả Địa cầu sắp đến ngày biến hoại vì:

     “Hạ nguơn nay đã hết đời,

                Phong ba biến chuyển đổi dời gia cang.” (Q.1)

 Và nhân sanh phải trải qua cuộc tang thương biến đổi để lập lại Thượng nguơn, mà bấy giờ chỉ có những phần tử ưu tú, thiện lương mới được tồn tại:

                Khắp lê thứ biến vi thương hải,

                 Dùng phép mầu lập lại Thượng nguơn”.

        Và:

                “Kẻ tà gian sau bị lửa thiêu,

                 Người tu niệm sống đời thượng cổ”.

(Q.2, Kệ Dân)

        Ngoài ra, theo Giáo lý PGHH thì một trong những sứ mạng của Đức Thầy xuống trần kỳ nầy là vưng lịnh Phật Vương để lập Hội Long Hoa, chọn người hiền đức sống đời Thượng nguơn an lạc:

                        “Muôn thu thiên định nhứt kỳ,
                  Hạ nguơn sắc lịnh khai kỳ Long Hoa.”

        (Thiên Lý Ca)

                        “Kíp mở Long Hoa xây máy tạo,
                  Cho dân Hồng Lạc thọ ân thừa.”

       (Dụng kinh quyền)

Do đó, Đức Thầy vừa là Thầy giáo mở lớp luyện thi vừa là Giám khảo trong kỳ Tuyển sinh sắp tới:

                    “Hội Long Hoa chọn kẻ tu mi,
               Người hiền đức đặng phò chơn Chúa.”
                                             (Q.2, Kệ Dân)
        Hay:
            “Đến kỳ thi danh Thầy chạm bảng,
             Trên đài cao gọi các linh hồn.”
                                            (Nang thơ cẩm tú)
        Hoặc là:
            “Lập rồi cái Hội Long Hoa,
             Đặng coi hiền đức được là bao nhiêu.”
                                            (Q.3, Sấm Giảng)

        Điều quan trọng là bất cứ ai phát tâm tinh tấn tu hành theo y như chánh pháp của Phật Đà thì sẽ được Ngài dìu dắt đến Long Hoa đại hội:

                “Dõi gót theo Thầy nương Phật cảnh,
            Vui vầy xem hội, hội Long Hoa.”
        Và:
            “Sớm, tối, đi, nằm, y chánh pháp,
            Thầy nguyền dắt đến cảnh Long Hoa.”

                       (Cho Ô.Hạnh, rể của Ô.Võ văn Giỏi ở Bạc Liêu)

Tóm lại, với 5 lý do vừa kể trên, tùy theo căn duyên của mỗi người mà lý do nào cũng là nguyên nhân khiến chúng ta phát tâm tu hành theo Phật giáo. Nếu là tín đồ PGHH, trong hai thời cúng lạy mỗi ngày nhứt là trước ngôi Tam bảo, ai ai cũng thành tâm thệ nguyện: “…Nay con nguyện cải hối ăn năn, làm lành lánh dữ, quy y theo mấy Ngài, tu hiền theo Phật Đạo.” Vậy thì không lý do gì mà chúng ta quên đi lời hứa hẹn nầy mà phụ rãy công ơn dạy dỗ của Đức Thầy lúc nào cũng muốn chúng ta bước vào đường tu niệm, Đức Thầy từng tiết lộ:

        “Ta thừa vưng sắc lịnh Thế tôn,

        Khắp hạ giái truyền khai Đạo pháp.” 

Đức Thầy còn cho biết, Ngài chẳng hề để tâm phân biệt một cá nhơn nào, mà vì lòng từ bi của Đức Phật đã tìm ra chơn lý giải thoát, nay Ngài có bổn phận giác tỉnh cho toàn sanh chúng:“Cứu dân bất luận giàu sang khó nghèo”.(Sám Giảng Q.3) Cũng gống như trời mưa không dành riêng cho loại hoa cỏ nào mà bất cứ nơi đâu, hễ có sẵn hột giống và hạp thời tiết thì tự nhiên nức mầm nẩy tược.

Vậy ai là người đã có hạt giống Phật và hữu duyên cùng Đạo pháp, khi nghe đến những lời trong Kệ Giảng của Tổ Thầy, hãy sớm tỉnh ngộ tu hành; bởi hiện tình là hợp thời và đúng lúc, cho các căn lành chớm nở.

        Ngài cũng nói rõ, giữa thời nầy có rất nhiều mối Đạo ra đời, tà chánh lẫn lộn:“Tam thiên lục bá khắp tràng hại dân” (Thiên lý ca). Do đó ai muốn tu hành, hãy dùng trí sáng suốt của mình mà chọn lọc cho kỹ, xem nền Đạo nào thật sự là giải khổ cho chúng sanh và có đủ giới luật, tôn chỉ, cũng như phương pháp tu hành, để đưa chúng sanh đến mục đích giải thoát mà nương theo, tất tương lai được kết quả cao quí:

“Đạo với lý từ đây nhiều chỗ,

Phải lọc lừa cho kỹ mà nhờ.

Chọn nơi nào đạo chánh phượng thờ,

Thì mới được thân sau cao quí.”

Bằng ngược lại, sẽ lạc vào tà thuyết, mê tín, rất nguy hại cho đời mạng ta:“Lầm tà đạo nhơn hư bất dụng”.(Kim cổ Kỳ quan của Ô. Ba Thới)  

Tuy nhiên, muốn cho sự tu hành được kết quả chắc chắn, chúng ta cần phải nghiên cứu sâu vào giáo lý Đạo Phật, coi tại sao ta phải tu, tu với phương pháp nào và được kết quả ra sao? Có thế ta mới vững đức tin và gắng sức tu tiến đến ngày viên mãn. Sau hết, xin hãy cùng nhau suy gẫm lời kêu gọi tha thiết của Đức Thầy sau đây để quyết chí tu hành, tầm đường giải thoát:

“Giống thú kia là loại sanh cầm,

Mà còn biết kiếm tầm đạo đức.

Thú vật biết tu hành náo nức,

       Còn người sao chẳng rứt hồng trần?”

                                                    (Q.4, Giác Mê TK)

        Sau đây, chúng tôi xin phép được trích dẫn bài luận giải “Tại sao chúng tôi cần phải tu ?” từ “Loạt Bài Huấn Luyện Đạo Đức – Nơi ngôi Tây An Cổ Tự” do Ban Hoằng Pháp soạn thảo và ấn hành năm 1954, để như một xác tín về lý do tu hành của người tín đồ PGHH:

        “Có lắm nguyên nhân khiến chúng tôi cần phải tu, những nguyên nhân ấy, tổng quát trong ba mục dưới đây:

        1.- Nhờ gặp giáo lý chơn chánh và mầu nhiệm của Đức Thầy.

        2.- Nhờ tin ở luật nhân quả rất nghiêm minh.

        3.- Nhờ nghĩ đến sự khổ của thân và ngày tận diệt của nhân loại.

        - Nhờ gặp giáo lý chơn chánh và mầu nhiệm của Đức Thầy: Là trong lúc Đức Thầy chưa mở đạo, chúng tôi quanh năm suốt tháng chỉ chú trọng vào tiền bạc, nhà cửa, vị danh và các việc làm hơn thua với mọi người. Ngoài ra chúng tôi không hiểu đâu là tội phước, nên chưa hề thiết đến sự tu. Kịp khi Đức Thầy mở đạo, tiếng kệ của Ngài bủa khắp, hiển thị việc thiên cơ đạo lý, khiến lòng chúng tôi sực tỉnh giấc mộng trần gian. Bắt đầu từ đó chúng tôi qui y thọ giáo nơi Ngài mà chuyên cần việc đạo đức.

        - Nhờ tin ở luật nhân quả rất nghiêm minh: Là chúng tôi cảm thấy không một việc làm nào ngoài được luật nhân quả, hễ gieo giống chi tức hưởng trái nấy, mà mọi cuộc sang hèn, vui khổ,...trên đời nầy là hiện thân của luật ấy. Chúng tôi muốn khỏi mọi nỗi phản ứng đau khổ sau nầy, cố nhiên hiện giờ cần phải tu bồi đức hạnh nhân từ, tâm hồn bác ái, và phát đoan nơi thân, khẩu, ý những điều chánh chơn cao khiết, thì ngày kia những khổ quả không do đâu trả lại cho chúng tôi được.

        - Nhờ nghĩ đến sự khổ của thân và ngày tận diệt của nhân loại: Là xét kỹ xác thân là nguyên nhân của đau khổ. Đeo mang lấy nó chỉ thấy nặng nề cùm xích, vì phải chạy sớm chạy chiều để lo sắm các việc đòi hỏi của nó. Song xác thân rốt cuộc cũng khuất phục dưới sự bắt giết của tử thần. Nếu có tội thì linh hồn cứ đi theo nghiệp mê muội mà đầu thai mãi trong sáu nẻo, chịu sự hình phạt khốc liệt của sự sanh, già, bịnh, chết, v.v…Nay quả địa cầu sắp biến hoại, sanh linh phải trải qua cuộc tang thương biến đổi, để lập lại Thượng nguơn, thế mà chưa chịu hồi đầu hướng thiện thì biết có cơ hội nào may mắn hơn để hòng tu thân lập mạng.

        Do chỗ xét nghĩ ấy, chúng tôi không ngần ngại cúi đầu vưng theo mọi lời chỉ giáo của Đức Thầy, hôm sớm lo tu hành đạo đức. Với mục đích chánh là tự cứu chúng tôi, thừa độ được Tổ Tiên Cha Mẹ và cả thảy chúng sanh khỏi ngày tận thế, được sanh về cõi Cực Lạc, dứt xong đường sanh tử luân hồi.

        Tóm lại, vì đạo lý chơn chánh của Đức Thầy, định luật phản ứng của nhân quả và nỗi khổ của xác thân với sự biến diệt nhơn loại trong một ngày gần đây mà khiến chúng tôi cấp tốc quày đầu tu học Phật Pháp, để cầu được giải thoát cảnh đau khổ hồng trần.”./.

 

Nam Mô A Di Đà Phật !

 

Comments