2011/06/13 - Kinh, Luật, Luận trong Giáo lý PGHH

                            Kinh, Luật, Luận trong Giáo Lý PGHH

 

            Đức Huỳnh Giáo Chủ khẳng định, Ngài không lập một tôn giáo mới lạ. Ngài chỉ là vị cổ Phật vưng lịnh Đức Thế Tôn hạ giới xuống trần hưng truyền Chánh pháp. Cho nên Ngài đã “nối theo chí Thích Ca ngày trước” và “rút trong các Luật các Kinh” để thành lập một giáo thuyết khế cơ, giản dị, dễ học, dễ tu cho phần lớn chúng sanh có căn cơ thấp kém trong thời Hạ nguơn Mạt pháp.

            Tuy nhiên, dù cố giản dị đến đâu, một quyển Sấm Giảng & Thi Văn Toàn Bộ chỉ vỏn vẹn khoảng 500 trang mà tóm lược cả “rừng kinh kệ” của chư Phật thì nội dung tất phải hàm súc cô đọng. Đó là lý do khiến người tu học đôi khi gặp khó khăn khi tìm hiểu nghĩa lý của những câu Sấm Giảng hoặc Thi Văn Giáo lý nếu không biết những ý tưởng ấy xuất xứ từ những quyển Kệ Kinh của Phật Giáo. Rõ ràng là Ngài đã:

                        “Rút trong các luật các kinh,

                    Tùy lòng không ép làm in giảng nầy.”

                                                            (Dặn dò bổn đạo)

            Như chúng ta đã biết, Đức Thầy khi sáng tác Sấm Giảng  hoặc Thi Văn thường dùng văn chương bình dân, giản dị nhưng lại chứa đầy Giáo lý nhà Phật nên lý nghĩa rất thâm sâu mầu diệu. Thế nên, Ngài đã nhiều lần lưu ý tín đồ:

                        “Coi rồi phải nhận cho hiểu lý,

                        Câu huyền sâu của kẻ Khùng nầy”.

                                        (Giác Mê Tâm kệ, Q.4)

                        Hay là:

                        “Sớm tỉnh Kệ Kinh tìm hiểu lý,

                        Một ngày hiệp hội hết mờ lu.”

            Ngoài ra, chúng ta cũng nên biết “các Luật các Kinh”, chính là Kinh, Luật, Luận mà Ngài đã rút ra từ kho Kinh điển của Phật Giáo:

            -KINH: là những lời của Đức Phật Thích Ca đã nói khi còn tại thế, để dạy chúng sanh dứt trừ phiền não và đạt đến quả Niết bàn.

            -LUẬT: là những giới luật mà Phật đã chế ra cho các đệ tử, để các đệ tử răn chừa các điều dữ, tu tập các điều lành, trau dồi thân tâm cho thanh tịnh.

            -LUẬN: là những sách phần nhiều do các đệ tử Phật làm ra để bàn giải rõ ràng nghĩa lý mầu nhiệm trong Kinh, Luật hoặc quyết đoán tánh, tướng của các Pháp, phân biệt những lẽ phải chẳng của chánh đạo và tà đạo, khiến cho người đời khỏi nhận lầm phải trái, chánh tà. (theo “Phật học Phổ thông” của HT. Thích Thiện Hoa).

            Do vậy, nếu ai lầm tưởng rằng Giáo lý PGHH chỉ là những câu thơ giản dị, tầm thường, thấp kém… để dành cho hạng quê mùa, chất phác hoặc kém học thức ngâm nga theo đó mà tu hành thì thật là sai lầm đáng tiếc.

            Bởi vì, nếu có ai để tâm nghiên cứu toàn bộ Giáo lý siêu mầu của Đức Thầy thì sẽ tìm thấy được vô số kim ngôn ngọc ngữ của Chư Phật hoặc những câu Kinh Kệ của Phật giáo dẫy đầy trong đó.

            Sau đây, chúng tôi xin mạn phép trưng dẫn ra một số câu Sấm Giảng hoặc Thi Văn Giáo Lý PGHH có liên quan đến những quyển Kinh Kệ quen thuộc và những lời Phật dạy mà nhiều người biết đến.

            Trước hết, xin đề cập về Bát Chánh Đạo. Bát Chánh là pháp tu căn bản, trước tiên do Đức Phật Thích Ca truyền dạy, các Kinh xưa đều có ghi chép đầy đủ.

            Ngày nay Đức Thầy cũng thuyết giáo môn đồ :“Diệu thâm Bát Chánh lời truyền giáo.”(Cho Ô. Chín Diệm) và:“…Vì đó là quyển Kinh nhựt tụng của những ai muốn thoát chốn mê đồ, tấn triển trên đường giải thoát.”(Luận Về Bát Chánh). Vậy người tu cần phải tìm học cho thông suốt để thực hành cho chính xác.

            Bát Chánh Đạo hay Bát Thánh Đạo có nghĩa tám con đường chơn chánh, đối trị với bát tà (tám điều tà vạy). Pháp nầy có diệu năng đưa chúng ta giải thoát sanh tử, đạt đến Thánh quả A-la-hán và chứng đắc Niết-bàn.

            Nhắc lại, khi vừa chuyển Pháp luân, Đức Phật đã thuyết Tứ Diệu Đề và Bát Chánh Đạo tại rừng Lộc Giả cho năm anh em Kiều Trần Như nghe. Nghe xong, năm vị nầy đều chứng quả A-la-hán. Cho nên, Bát Chánh Đạo được xem là pháp tu căn bản của Đạo Phật. Có lần các môn nhơn hỏi Phật, qua đời sau lấy chi làm chứng cứ để biết đâu tà, đâu chánh, Phật đáp:“Nơi nào có Bát Chánh Đạo là Chánh Đạo, nơi nào không có Bát Chánh Đạo là Tà Đạo”. Do đó, Đức Thầy từng nói Bát Chánh “Là chân truyền của Phật Thích Ca”.

            Ngày nay, Đức Thầy cũng nhắc lại:

                        “Thiền lâm Phật Thích thuở xưa kia,

                        Non Tuyết rèn ra Bát Chánh kìa.

                        Phổ hóa dân lành trong khắp chúng,

                        Hoàn cầu bốn biển khắp danh bia. ”

                                    (Đến Làng Nhơn Nghĩa)

            Sau Bát Chánh Đạo, chúng tôi xin tiếp tục trình bày về Tứ Diệu Đề.

            TỨ DIỆU ĐỀ: Cũng gọi là Tứ Thánh Đế hay Tứ Chơn Đế có nghĩa: Bốn pháp thẩm xét mầu nhiệm chơn thật.

            Theo Kinh xưa thì Đức Phật Thích Ca đã thuyết pháp Tứ Diệu Đề cho năm anh em Kiều Trần Như nghe trước hết. Bốn pháp ấy như sau:

            1-Khổ Đề: Gồm có các sự khổ trong đời (bát khổ).

            2-Tập Đề: Gồm có các tập nhơn (vô minh phiền não) sanh ra quả khổ.

            3-Đạo Đề: Phương pháp diệt khổ để hưởng quả Niết Bàn.

            4-Diệt Đề: Gồm có tám đường chánh (Bát chánh đạo).

            Đức Thầy có viết bài “Sơ Giải về Tứ Diệu Đề”, năm 1942 tại Bạc Liêu đã giải sát theo ý của kinh Phật.

            Tuy nhiên, căn cứ theo quyển Tư “Giác Mê Tâm Kệ” thì Đức Thầy lược giải Tứ Diệu Đề có chút khác biệt:

            1/-Tập Đề: Có nghĩa tập sửa mình đúng theo qui luật pháp giáo của Đạo.

            2/-Diệt Đề: Trừ diệt nghiệp nhân phiền não và lòng ham muốn vật chất, danh lợi tình.v.v…

            3/-Khổ Đề: Chịu khó tu hành cho kỳ được các qui điều pháp giáo và diệt trừ những phiền não dục tình như đã kể trên.

            4/-Đạo Đề: Thực hành theo con đường Bát Chánh để hoàn thành đức giải thoát…

            Sở dĩ, giữa Tứ Diệu Đề của Đức Phật và của Đức Thầy giảng dạy, có thay đổi thứ tự và phương cách một vài chỗ là vì trong thời Chánh pháp, Đức Phật phương tiện cho chúng sanh biết các nỗi khổ hiện tại là do chúng sanh tạo nghiệp phiền não vô minh ở quá khứ. Bây giờ muốn khỏi các quả khổ ở vị lai thì phải diệt trừ các phiền não vô minh hiện tại, bằng cách hành đúng Đạo Bát Chánh, tất nhiên các nỗi khổ sau nầy sẽ dứt sạch và tự tại vào cõi Niết Bàn.

            Còn vào đời Mạt pháp nầy, Đức Thầy phương tiện cho chúng sanh biết: hiện kiếp ta phải tập làm các nhân lành, diệt trừ các nghiệp ác, và chịu khổ tu hành đừng thối chí, tất sẽ tỏ ngộ Đạo mầu, khỏi vòng sanh tử mà đến cõi giải thoát (Niết Bàn).

            Xem đấy, thấy rằng hai cách giải bày Tứ Diệu Đề của Đức Phật và của Đức Thầy, chỉ khác nhau ở phương tiện sửa cho thích ứng với trình độ và căn cơ của chúng sanh, chớ chỗ qui túc cũng đồng mục đích giải khổ và thành Đạo như nhau. Người tu Phật cần khảo nghiệm cả hai cách giải bày của Đức Phật và Đức Thầy để dung hội lại hầu thực hành cho đến khi nào đạt được Đạo quả vô thượng Đại Bồ Đề. (Trích dẫn từ quyển “Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ Chú Giải” của Thiện Tâm). Đức Thầy thường khuyên:

                        “Câu Bát Chánh rán mài chạm dạ,

                        Tứ mục điều người khá hành y.”

                                                        (Thiên Lý Ca).

            Kế tiếp, khi đọc đến câu Sấm Giảng sau đây:

                        “Cái chữ Tâm mà quỉ hay ma,

                        Tiên hay Phật cũng là tại nó.” (Quyển 4)

            Ai cũng hiểu rằng Đức Thầy muốn nhắc đến cái lý “Nhứt thiết duy tâm tạo”. Nghĩa là tất cả muôn pháp, muôn cảnh, từ tốt xấu, cao thấp, trí ngu… đến Phật, Tiên, Thần, Thánh hay ma quỉ, cũng đều do tâm tạo ra cả.

            Trong “Tâm Địa Quán Kinh”, Phật bảo:“Tâm như họa sư, năng họa chủng chủng sắc cố. Tâm như đồng bộc vi chư phiền não sở sách dịch cố. Tâm như Quốc vương khởi chủng chủng tự đắc tại cố. Tâm như oán tặc, năng linh tự thân thọ đại khổ cố.”(Tâm như thợ vẽ, vẽ được tất cả các thứ hình sắc. Tâm như đứa tớ bé, bị các phiền não thúc hối và sai khiến. Tâm như vị Quốc vương, phát khởi được các việc an vui tự tại. Tâm như cừu thù, khiến tự thân phải chịu các điều thống khổ).

            Và trong “Pháp Bửu Đàn Kinh”, Đức Lục Tổ cũng nói:“Lòng từ bi, tức là Quan Âm, lòng hỉ xả tức là Thế Chí, lòng năng tịnh (trong sạch) tức là Thích Ca, lòng bình trực (bình đẳng và chánh trực) tức là Di Đà”.Ngược lại, “lòng nhơn ngã là núi Tu Di, lòng tà vạy là nước biển, lòng phiền não là sóng trào, lòng độc hại là rồng dữ, lòng dối trá là quỉ thần, lòng trần lao là cá trạnh, lòng tham sân là Địa ngục, lòng ngu si là súc sanh”. Đức Thầy hiện nay cũng cho biết:

                        “Làm gian ác là quỉ là ma,

                        Làm chơn chánh là Tiên là Phật.”(Kệ Dân, Q.2).

            Vậy thì Phật là gì và Phật ở nơi nào, Đức Thầy chỉ rõ:

                        “Phật tại Tâm chớ có đâu xa,

                        Mà tìm kiếm ở trên Non núi.”

             Và: “Hãy bền lòng tầm Phật trong tâm.”(Kệ Dân, Q.2)

            Ý nghĩa câu nầy là Tâm của mỗi chúng sanh đồng một bản thể với chư Phật. Từ vô thỉ trong thể Chơn như ấy, vì một bất giác vọng niệm sai lầm, nên bị đám mây phiền não che lấp Phật tâm. Từ đó mọi kiến thức đều do phiền não chi phối, nên ta không thể thấy được Phật tâm của mình. Cũng ví như hồ nước đang trong sạch, bỗng bị gió thổi, sóng trào, khiến cặn cáu nổi lên làm nước đục ngầu, không thể nhìn ra đâu là nước trong. Nhưng khi hết gió, sóng lặng, bùn cặn lắng chìm tận đáy, bấy giờ ta thấy hồ nước trong lành trở lại.

            Nên người muốn tìm Phật mà cứ chạy theo hình tướng bên ngoài, hoặc tìm nơi non cao rừng thẳm là sai lầm. Bởi không có Phật nào khác hơn là bản lai thanh tịnh của chính mình. Bản lai thanh tịnh còn gọi là Bổn Lai tâm, tức là trực nhận tâm Phật của chính mình. Nếu giác ngộ là Phật. Còn mê muội là chúng sanh. Cũng như sóng và nước, vọng và chơn, chân và giả. Nó vốn sinh từ gốc bản lai. Do câu chuyện như sau:

            Xưa, Đức Lục Tổ ở xứ Lãnh Nam vốn là người không biết chữ, một hôm Ngài đi đốn củi đổi gạo gặp một Sa Môn đọc kinh Kim Cang đến câu: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, thì Ngài giác ngộ đi tu. Sau tám tháng giã gạo tại chùa Huỳnh Mai được Ngũ Tổ bảo hãy vào nhà sau truyền pháp. Ngũ Tổ cũng lấy kinh Kim Cang giảng nghĩa cho nghe, và cũng đến câu: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” như trên Ngài liền đắc ngộ và thốt lên bài Kệ:

                       “Nào dè tánh mình vốn sẵn thanh tịnh,

                        Nào dè tánh mình vốn không sanh diệt.

                        Nào dè tánh mình hay sanh muôn pháp,

                        Nào dè tánh mình vốn sẵn đầy đủ,

                        Nào dè tánh mình vốn luôn trong sạch”.

            Ngoài ra, trong Kinh Niết bàn, Phật bảo:“Nhược nhơn bất tri Phật tánh giả, tắc vô trượng phu tướng giai danh nữ nhơn”(Nếu người không biết mình có tánh Phật thì người đó không phải là bậc trượng phu, chỉ gọi là nữ nhơn thôi).

            Sau nầy, Đức Phật Thầy Tây An cũng dạy:

                        “Lọc lừa thì được nước trong,

                    Ma, Phật trong lòng lựa phải tầm đâu ?”

            Đức Thầy nay cũng đã hằng khuyên:

                        “Nhàn thanh tìm kiếm, kiếm nơi tâm,

                         Phật cũ ngày xưa hãy rán tầm”.

                                        (Đến Làng Nhơn Nghĩa)

            Tiếp theo, trong bài “Sa Đéc”, Đức Thầy có viết:

                        “Chuyện cao siêu Phật pháp còn dài,

                          Khó gặp chữ không không mà có”.

            Ý của câu Sấm Giảng này là Đức Thầy muốn nói đến cái lý sắc không hoặc cái lý chơn không bất hoại. Bản thể của nó vốn là chơn không, cho nên nói sắc chẳng khác gì không. Vả lại từ cái chơn không, hiện ra mọi cảnh vật (hoạn sắc) cho nên không chẳng khác gì sắc. Tuy nói là chẳng khác nhưng hai tiếng của không và sắc vẫn còn.

            Trong “Bát Nhã Tâm kinh”, Phật có giải: “Sắc tức vị không, không tức vị sắc” (Hoạn sắc tức là chơn không, chơn không tức là hoạn sắc, sắc chẳng khác nào không, không chẳng khác nào sắc). Nghĩa là nói ngoài các hoạn sắc không có cái chơn không, ngoài cái chơn không cũng không có các hoạn sắc. Hiểu lý nầy, ta sẽ tránh được sự thiên chấp (vốn là cái gốc của phiền não) mặc dù hai tiếng sắc và không trong ngôn ngữ vẫn còn.

            Như thế, sắc chất và chân không cũng chỉ là một tâm thể như sóng và nước. Vậy câu “kiếm chữ sắc không” là nói thấu đạt cái “bản thể” cái “chân như thật tướng” của chính mình. Đức Thầy từng dạy:

                        “Hãy tìm kiếm cái không mới có”.(SG, Q.2)

            Và:

                        “Sắc không không sắc chớ lìa xa”.

                                                (Tỉnh bạn Trần Gian)

            Tóm tắt, Sắc là tướng có, thể của nó là không; cho nên, sắc chẳng khác gì không, sắc chính là không; vả lại, từ cái không hiện ra các cảnh vật hữu vi (hoạn sắc) nên không chẳng khác gì sắc, không cũng chính là sắc vậy.

            Sau đây, chúng ta thử suy xét câu:

                        “Lời thuyết pháp chẳng vì nhơn ngã” (Q.4)

            Phải chăng câu giảng nầy ý nói lời thuyết pháp của Đức Thầy, chẳng hề có lòng phân biệt, người và ta trong chỗ cao thấp, trí ngu mà chỉ vì lòng từ mẫn. Ngài có bổn phận đánh thức kẻ còn mê để sớm được tỉnh giác.

            Cùng với ý nghĩa nầy trong Kinh Hoa Nghiêm, Phật nói:“Ví như mặt trời mọc, trước tiên chiếu các dãy núi chúa, kế đến chiếu tất cả núi lớn, rồi chiếu núi Kim Cang Bảo, sau rốt chiếu khắp đại địa. Ánh sáng mặt nhựt chẳng nghĩ rằng: trước tiên ta nên chiếu các núi chúa lớn, lần lượt mới chiếu đến đại địa. Nhưng vì núi non đất liền có cao thấp, nên ánh sáng chiếu có trước sau. Tâm của Đức Như Lai cũng y như vậy, Ngài thành tựu vô lượng vô biên pháp giới trí huệ, nhựt luân thường phóng vô lượng trí huệ quang minh vô ngại, trước hết chiếu các vị Bồ Tát,…Kế đến chiếu các bậc Duyên Giác, Thinh Văn, kế nữa chiếu những chúng sanh có thiện căn, quyết định tùy theo chỗ đáng hóa độ. Sau cùng chiếu đến cả thảy chúng sanh, nhẫn đến kẻ tà định, vì họ mà làm nhơn duyên lợi ích cho đời vị lai…”

            Đức Thầy hiện nay cũng từng nói:

                        “Giàu sang nghèo khó cũng người,

                       Nên ta thương hết dầu cười hay khen”.

                                        (Khuyên Người Giàu Lòng Phước Thiện)

            Đặc biệt hai câu Thi thơ sau đây cũng xuất xứ từ  bài “Sa Đéc”, chúng ta thấy gồm có đủ Triết lý của các bậc Phật, Thánh, Tiên trong đó:

                        “Sách có câu “Minh đức tân dân,

                      Được thủ trụ huyền khai nhứt khiếu.”

            MINH ĐỨC TÂN DÂN: Đây là một câu chữ trong sách Đại Học của Đức Khổng Tử. Nói cho đủ là “Đại học chi đạo tại minh đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện” (Người tu học đạt đến Thánh đạo (tức  đạo Nho) thì trước phải làm cho tâm mình được sáng, dân chúng được mới và đưa họ đến tột chỗ lành).

            ĐẶNG THỦ TRỤ: Là câu trong Pháp Bửu Đàn Kinh dạy: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”.(Nếu trụ cái tâm vào chỗ không sanh thì “kiến tánh thành Phật” vô sanh bất diệt).

            Câu Kinh trên xuất phát từ kinh Kim Cang Bát Nhã của Phật nói ra. Đức Lục Tổ Huệ Năng xưa nghe đến câu kinh nầy thì biết lối vào. Rồi đến phút cuối cùng Ngài được Đức Ngũ Tổ kêu vào phòng cũng thuyết tới câu Kinh nầy thì Ngài hoát nhiên đại ngộ (chứng đạo) được Ngũ Tổ truyền Y bát làm Tổ thứ sáu.

            HUYỀN KHAI NHỨT KHIẾU: Câu nầy thuộc triết lý của đạo Lão: Cái khiếu huyền quang được khai mở, tức cái trí huệ (vô sư) được bừng sáng.

            Ba đoạn Kinh kể trên, được Đức Thầy dung thông cả tam giáo: Phật, Lão, Nho để truyền dạy tín đồ của Ngài.

            1.-Câu 1: “Minh Đức Tân Dân”, trong sách Đại học của Nho giáo.

            2.-Câu 2: “Ưng vô sở trụ” là của Phật Giáo trong kinh Kim Cang.

            3.-Câu 3: “Huyền Khai Nhứt Khiếu”, là câu trong Lão giáo thường dùng.

            Và chính Ngài đã xác định:

                        “Trong Tam Giáo ân cần mở đạo,

                        Trường ngoại bang phục đáo như xưa”.(Thiên lý ca)

            Tiếp theo là hai câu Sấm Giảng trong Quyển 4 - Giác Mê Tâm Kệ:

                        “Thấy đạo lý chớ nào thấy tánh,

                         Còn ẩn nơi tim óc xác phàm.”

            Hai câu nầy có nghĩa phần đông người tu chỉ thấy Giáo lý của Đạo, chớ ít kẻ được thấy tự tánh của mình. Bởi nó tiềm ẩn nơi tim óc của mỗi người, đây là chỉ cái bản tánh Chơn như sẵn có từ vô thỉ, nhưng bị lấp vùi bởi vô minh vọng niệm. Ví như trong ly nước đục vẫn có sẵn thể nước trong, nhưng vì ta chưa lọc được bùn cặn ra, nên không thấy được nước trong.

            Kinh Di Đà Sớ Sao, có chép:“Linh minh đổng triệt, trạm tịch thường hằng, phi trược, phi thanh, vô bối vô hướng, đại tai chân thể bất khả đắc như tư nghị giả” (Người đời hễ có huyễn thân, tất nhiên có tự tánh. Bản thể của tự tánh là linh thiêng sáng suốt, rổng rang thông thấu, trong trẻo vắng lặng, còn hoài chẳng mất, chẳng phải trược, chẳng phải thanh, không lui, không tới; rất lớn thay cái chơn thể của nó, không thể nghĩ bàn được).

            Vậy chúng ta muốn thấy được tự tánh cần phải phản chiếu nơi tâm một cách rõ ràng vi tế, không để một nhân duyên tập khí nào ám ảnh, và lòng cứ luôn như thế, mới hoát nhiên trực kiến được bản tánh. Lúc ấy ta sẽ tự thấy viên minh, tự tại vô ngại, không còn bị trói trăn câu thúc, trong lẽ hư vọng vô minh. Vì vậy, Đúc Thầy có dạy:

                        “Tu rèn tâm trí cho minh,

                    Tánh kia thành kiếng phỉ tình chùi lau”.

                                                (Sấm Giảng, Q.3)

            Sau đây là một số câu Sấm Giảng có tương quan đến Kinh Phật mà chúng ta thường gặp:

            - NẾU LẶNG TÂM TỎ NGỘ ĐẠO MẦU: (Q.4)

            Một khi thấu đạt cái chơn lý diệu mầu của Đạo, gọi tắt là ngộ đạo, tức là cái tri kiến chơn thật bừng mở ra, liền chứng ngộ Đạo Bồ Đề.

           Kinh Pháp Hoa thường gọi “Ngộ Phật Tri Kiến”. Hiện nay, Đức Thầy cũng nói rõ:“Biết tỏ ngộ ấy là gặp Đạo”, mà ai muốn được tỏ ngộ, tức phải lặng tâm thì sẽ gặp Đạo.

            - VÔ PHÁP TƯỚNG MỚI LÀ THIỆT TƯỚNG: (Q.4)

            Bởi cái tâm vốn chơn không, cho nên người tu không nên chấp vào các pháp tướng. Vì các pháp đều không có thật thể và thường tồn.

            Kinh Kim Cang có dạy:“Người tu hành đến khi nào không còn bị các tướng câu thúc, tức là không còn phân biệt có tướng người, tướng ta, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, tất nhiên cái thiệt tướng thường tái hiện ra sừng sững vậy (chơn tướng Như Lai)”.

            - MÊ VỚI TỈNH NHẬN RA LÀ LÝ: (Q.4)

            Người tu hành cần phân tách và thấu hiểu được thế nào là mê, thế nào là tỉnh, tức là cần nhận rõ được chân lý của Đạo. Từ đó, nương về với tâm tỉnh giác để tiến đến quả Bồ Đề.

            Trong Tỉnh Thế Ngộ Chơn có câu:

            “Nhơn nhơn tỉnh ngộ, nhơn nhơn Thánh,

             Tại tại hôn mê, tại tại luân”.

            (Người biết tỉnh ngộ, ấy là người Thánh,

             Kẻ tạo hôn mê, tất phải luân trầm).

            - ĐỊNH TÂM THẦN NHƯ NƯỚC MẶT HỒ: (Q.4)

Giữ tâm trí cho được yên lặng, không để chút trần lao phiền não làm xao động, thì sự sáng suốt mầu nhiệm sẽ phát ra. Đức Thầy cũng có dạy:

                        “Định thần dẹp hết tà tâm,

                    Hườn lai bổn tánh thần khâm quỉ nhường”.

                                                                (Thu Đã Cuối)

            Trong Khế Kinh, Phật có bảo:“Chế tâm nhứt xứ, vô sự bất hiện.” (Để tâm định lại một chỗ thì không việc gì mà không thành tựu).

            Vô lượng Thọ Kinh, Phật có nói:“Các hàng Bồ Tát sanh qua cõi Tịnh độ của Đức Phật A Di Đà, hiểu rằng các pháp đều là như như”.

            Và trong Trung luận cũng chép:“Chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng thường cũng chẳng đoạn, chẳng một, cũng chẳng khác, chẳng lại, cũng chẳng đi.v.v…Những tướng, những pháp như vậy, tức là như như, cũng gọi là Như-lai”.

            Đức Thầy nay cũng có câu:

                        “Cảnh như như chẳng có đổi thay,

                         Không màng biết phân chia nhơn ngã”.

                                                        (Khuyến Thiện, Q.5)

            Trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Đức Phật có phán: “Những Phật tử tuy cách ta từ ngàn dặm mà thật tâm gìn giữ giới luật của ta, chắc chắn sẽ đắc đạo như ta. Còn những kẻ tuy ở gần bên ta, mà không trì hành giới luật của ta thì không xứng đáng là Phật tử và không thể đắc đạo”. Đức Thầy hiện nay cũng dạy:

                        “Đem tâm hồi hướng gốc lành,

                        Làm tôi Phật Tổ chí thành chí chơn”.

                                                        (Cho Ông Cò tàu Hảo)

            - RÁN TU TÂM DƯỠNG TÁNH COI ĐỜI: (Q.2)

Trau sửa cái tâm và điều dưỡng cái tánh. Tâm và Tánh đồng một bản thể nhưng vì ứng dụng nên có hai tên. Vẫn biết tâm tánh của chúng sanh và chư Phật gốc cũng như nhau, nhưng vì tâm tánh của chúng sanh bị vô minh vọng hoặc nên nay cần phải tu dưỡng lại, chớ không phải tìm cầu cái tâm tánh nào khác.

            Trong Kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật bảo ông A Nan:“Tất cả chúng sanh cùng mười phương chư Phật, đồng một bản thể chơn tâm thanh tịnh không hai. Bởi các ông bị vô minh vọng tưởng nên sanh ra mười phương hư không và thế giới nhiều như vi trần…Chẳng khác nào một điểm mây nhỏ sanh trong nền trời xanh. Nếu nay hết mây, tức ngộ được chân tánh thì mười phương hư không và thế giới đều tiêu diệt”.

            Vậy chúng ta cần tu sửa cho sạch hết các vọng tâm phiền não và điều dưỡng cái tánh cho được hòa vào một bản thể giác ngộ với chư Phật, tất nhiên huệ nhựt hiện bày, dứt hết nghiệp sanh tử, tự tại giải thoát, như Đức Thầy đã dạy trong Quyển 5, Khuyến Thiện:

                        “Trau tâm luyện tánh cho minh,

                    Chuyên lo niệm Phật sửa mình cho trơn”.

            Tóm lại, sau khi trưng dẫn một vài câu Sấm Giảng và Thi Văn Giáo Lý của Đức Thầy, đặc biệt có liên quan đến Phật pháp, rõ ràng giữa Giáo Lý PGHH và Kinh Điển của Phật Giáo có sự liên hệ vô cùng mật thiết. Ngoài những Giáo Lý căn bản của Phật Giáo như Bát Chánh Đạo, Tứ Diệu Đề...chúng ta còn tìm thấy được rất nhiều quyển Kinh nổi tiếng và thường dùng trong giới Tăng ni, Phật tử như kinh Bát Nhã, kinh Lăng Nghiêm, kinh Viên Giác, kinh Pháp Bảo Đàn, kinh Kim Cang, kinh Pháp Hoa, kinh Diệu Pháp Liên Hoa, kinh Đại Niết Bàn hoặc kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ, kinh Tiểu Bổn A Di Đà,... hay Tham Thiền Chỉ Yếu, Tập Mục Ngu Đồ, Luận Trung Quán, Luận Tối Thượng Thừa... đã được Đức Thầy trích dẫn và áp dụng rải rác khắp cùng trong Giáo lý của Ngài.

            Nhận thấy trong công cuộc khai hóa nhân sanh, Đức Thầy đã mượn lời của Đức Phật Thích Ca và Đức Khổng Tử truyền dạy khắp nơi để cho mỗi người đều hiểu biết tường tận:

                        Ta dạy thế mượn lời Phật Thánh,

                    Nên truyền ban cho chúng-sanh tường.(Q.4)

            Dụng ý của Đức Thầy muốn đưa chúng ta từ chỗ mới phát tâm tu thân hành thiện đến chỗ truy tìm nghĩa lý để tiến xa trên bước đường Tu Nhân Học Phật. Bởi vì, hành Thiện không chưa đủ, vì nó mới bước sơ cơ. Phải truy Kinh để mở mang trí tuệ. Kinh Kệ vốn là chìa khóa nhập môn để mở rộng kho tàng pháp hải, là kim chỉ nam để hướng dẫn pháp môn tu hành nên Đức Thầy đưa tín đồ Ngài nắm vững những then chốt và yếu lý của Đạo Phật để không bị lầm đường lạc hướng.

            Tu học là phải tìm hiểu nghiên cứu cho chính xác, rồi cố gắng thực hành theo mới thâm nhập được. Đức Thầy có dạy:

                        “Quay về cội phúc đường chân đạo,

                          Phật pháp Thiền na dốc thực hành”.

                                                        (Cho Cô Võ Thị Hợi)

             Tuy hiện giờ lắm kẻ ỷ mình có thế lực lấn áp người tu, nhưng đến một ngày kia:“Phật Thánh Tiên Đông độ lướt sang, Miền Nam địa phân chia đẳng cấp” thì bá tánh sẽ thấy rõ sự cao quí của kẻ tu hành đạo đức./.
Comments