2012/04/22 - Tìm-hiểu về Ngũ-Giới trong Giáo-Lý Phật-Giáo Hòa-Hảo

Tìm-hiểu về Ngũ-Giới trong Giáo-Lý Phật-Giáo Hòa-Hảo

         Người phát tâm quy-y Tam-Bảo là đã bước chân lên nấc thang giải-thoát, nhưng nếu không biết giữ-gìn giới cấm là chỉ mới bước một nấc đầu rồi dừng lại, không thể tiến đến giải-thoát thật sự được. Vì vậy, đối với người tu theo Đạo Phật (gọi chung là Phật-tử), hễ phát-nguyện quy-y thì cần phải phát nguyện giữ giới để mạnh tiến trên đường giải-thoát. Cho nên, sau khi Quy-y Tam-Bảo, hành-giả phải trì-giới như Đức Thầy đã dạy: “Cần nhứt ở chỗ giữ giới-luật hằng ngày(trang 450 SGTVTB 2004). Bởi sự nghiêm trì giới-luật sẽ ngăn-chận được các điều tội-ác của thân, khẩu, ý và nội ma; ngoại cảnh không còn xúi-giục, khơi-gợi.  Giới-luật như hai hàng rào không cho heo gà phá rẫy, là hai hàng lan can cầu để xe và hành-khách qua cầu khỏi bị rơi xuống sông. Đức Thầy hằng dạy:

                 “Đồ-lao muốn lánh sớm nghe Ta,

                  Bố-thí trì chay giữ giới mà.”          (trang 382 SGTVTB 2004)

         Hay là:

                 Gìn giới cấm sửa tâm ô-tạp”        (trang 141 SGTVTB 2004)

         Thế nên, người tu theo Đạo Phật cần phải giữ-gìn Ngũ-giới (năm giới) như Đức Phật đã dạy:

(1)   Không sát-sanh,

(2)   Không trộm cướp,

(3)   Không tà-dâm,

(4)   Không nói dối,

(5)   Không uống rượu.

        Hôm nay, chúng ta sẽ tìm-hiểu ý-nghĩa của năm giới, lợi-ích của sự thực-hành, và tương-quan của Ngũ-giới trong Giáo-Lý PGHH.

A.- Ý-Nghĩa của Ngũ-Giới

        Vì lòng từ-bi, muốn chúng-sanh dứt trừ tội lỗi mà Đức Phật đặt ra Ngũ-giới, tức là Năm điều răn-cấm. Đức Phật không bắt-buộc chúng ta phải giữ, nhưng để cho tâm từ-bi tăng-trưởng, cho tội lỗi tiêu-trừ, mỗi chúng ta phải tự phát-nguyện gìn-giữ. Bởi vì giáo-lý của Phật là những phương thuốc cứu-khổ chúng-sinh, chúng-sinh muốn thoát khổ phải y theo đó mà hành, và tuân theo lời răn-cấm của Ngài. Như ông lương-y chế ra những phương thuốc trị lành mọi căn bệnh của bệnh nhân; nhưng trước khi uống thuốc, bệnh nhân phải triệt-để tuân theo lời ông dạy và giữ đúng những gì ông bảo phải kiêng-cữ. Nếu bệnh nhân biết kiêng-cữ đúng pháp thì thuốc mới có hiệu-nghiệm. Cũng thế, nếu chúng-sinh biết vâng giữ giới-luật thì tu theo Đạo Phật mới có kết-quả, mới thật sự được giải-thoát. Năm điều răn-cấm nầy, Phật vì thương-xót chúng-sinh mà đặt ra, muốn cho chúng-sinh được an-lành hạnh-phúc. Giữ-gìn năm giới nầy là vì mình, chứ không phải vì Phật. Vậy, Năm điều răn-cấm nầy là gì?

1.   Không sát-sanh

         Không sát-sanh nghĩa là không được giết hại mạng sống của con người. Chúng ta biết quý sinh-mạng của mình, nhưng vô lý lại sát-hại sinh-mạng kẻ khác. Vì lẽ công-bằng nhơn-đạo, không cho phép chúng ta làm việc ấy. Nếu làm, chúng ta đã trái với lẽ công-bằng, thiếu lòng nhơn-đạo, đâu có xứng đáng là đệ-tử của Phật. Giết hại mạng sống có ba cách:

         a) Trực-tiếp giết.  Phật-tử không tự tay mình giết hại mạng người.

         b) Xúi-bảo giết. Phật-tử không nên xúi-bảo, đốc-thúc kẻ khác giết người.

         c) Tùy-hỷ trong việc giết-hại. Khi thấy họ giết hại nhau, Phật-tử chỉ một lòng thương-xót, không nên vui-thích.

         Đó là giữ giới không sát-sanh. Nhưng suy rộng ra, các loài vật cũng biết quý trọng mạng sống của chúng. Như khi một con bò hay một con heo sắp bị đập đầu, thọc huyết, ta thấy sự phản-kháng của nó rất mãnh-liệt, sự đau-thương cùng-cực bằng những tiếng kêu-gào, những cái giãy-giụa thoát chết! Chiếu theo lẽ công-bằng, điều ta không muốn ai làm cho ta thì ta đâu nỡ gieo cho kẻ khác hay loài khác. Vì để tôn-trọng sinh-mạng của mọi loài, để hợp lý công-bằng, Đức Phật cấm giết hại người và các loài vật.

         Chẳng những không giết hại, mà Đức Phật còn dạy Phật-tử phải cứu mạng, phóng-sinh nữa. Ai có lâm cảnh tù đày mà được phóng-thích, mới thông-cảm, thấm-thía cái cảnh của người hay vật được cứu-mạng, phóng-sinh. Nỗi vui-mừng của một người tử-tội được ân-xá, ngang với nỗi vui-mừng của con vật sắp bị cắt cổ, nhổ lông mà được phóng-sinh. Như vậy, tại sao chúng ta không ban vui cho người, cho vật, mà cứ gieo khổ chuốc hờn? Nhân đã gieo thì quả nhất-định phải gặt. Càng tạo nghiệp sát, càng lao mình vào vòng đau-khổ. Người Phật-tử lúc nào cũng nên gieo nhân tốt để gặt quả tốt, cho nên không giết hại mà lại phóng-sinh. Phật dạy: “Thường sinh tâm sát hại càng tăng-trưởng nghiệp khổ, mãi xoay vần trong sinh tử, không có ngày ra khỏi” (Kinh Lăng Già).

         Vẫn biết, giết-hại là tạo nhân khổ, phóng-sinh là tạo nhân vui, nhưng người cư-sĩ tại gia còn ăn mặn, còn làm công kia việc nọ thì khó tránh khỏi phạm giới. Vì vậy, không bắt buộc chúng ta phải giữ triệt-để như thế, chỉ cần giữ phần quan-trọng là không giết người và các gia-súc hữu-ích như: trâu, bò, ngựa, chó, mèo,... còn những sinh-vật cần-thiết cho nhu-cầu dinh-dưỡng như: tôm, cá,... tránh dần dần được bao nhiêu thì tốt bấy nhiêu.

2.   Không trộm cướp (không đạo-tặc)

        Chúng ta không muốn ai lấy của mình, tại sao lại muốn chiếm đoạt của người? Bởi cướp giựt hay lấy lén (ăn-trộm) của người là hành động trái nhơn-đạo, trái với lẽ công-bằng, phạm luật-pháp, và phải bị trừng-phạt. Trộm cướp là do lòng tham-lam ác-độc, chỉ nghĩ lợi mình, quên nỗi đau-khổ của người. Quyền sở-hữu cá-nhân của ta, ta biết tôn-trọng thì ta nỡ nào chà-đạp lên quyền sở-hữu của người.

        Đôi khi vô-ý, chúng ta làm mất một vật hay một số tiền, chúng ta dàu-dàu buồn-khổ, huống chi là lấy trộm của người để người phải khóc-than, nguyền-rủa sao đành? Như chúng ta đã biết: “Tiền tài là huyết mạch của con người”. Như vậy, kẻ cướp đoạt tài sản của người tức là cố sát-hại sinh-mạng của người vậy! Với tâm bình-đẳng của Đức Phật, Ngài không cam thấy đệ-tử làm những việc trái nhơn-đạo và bất công, nên Ngài cấm không cho trộm cướp. Vì vậy, Phật-tử nhất định không được trộm cướp của người.

3.   Không tà-dâm (không tà-dục)

        Người Phật-tử tại gia được phép có đôi bạn, nhưng phải chính-thức, rõ-ràng. Tất cả sự lang-chạ, thầm-lén, không hợp-pháp đều phạm giới tà-dâm. Mỗi người, ai cũng muốn gia-đình mình đầm-ấm, con em mình trinh-bạch, thì tại sao đành phá hại gia-cang hay làm nhục-nhã tông-môn của người? Bởi vì đây là hành-động làm đau-khổ cho gia-đình mình và gia-đình người, tạo thành nguy-cơ tán gia bại sản. Do một chút tình-cảm riêng tư của mình, khiến nhiều người đau-khổ liên-lụy, quả là thiếu lòng nhân. Để bảo-đảm sự an-ổn của gia-đình mình và hạnh-phúc của gia-đình người, Phật-tử nhất định không phạm tà-dâm.

        Sách sử thường bảo: “Muôn việc lành hiếu-thuận đứng đầu, ngàn việc dữ tà-dâm đứng trước”. Đức Thầy cũng dạy rằng: “Muốn tránh sự bại-hoại nền luân-lý nước nhà, muốn giữ-gìn tiếng tăm của gia-thế, phải đừng để dục-tình lôi-cuốn, bắt chước gương xưa trau-giồi lòng hiếu-trung trinh-tiết.” (trang 190 SGTVTB 2004).

4.   Không nói dối (không vọng-ngữ)

        Nói trái với sự thật để mưu cầu lợi-ích cho mình, hoặc cốt hại người là nói dối. Do động-cơ tham-lam ác-độc, sự kiện xảy ra thế nầy lại nói thế khác, sửa trái làm mặt, đổi phải thành quấy, khiến người mắc họa. Người nói như thế trái với đạo-đức, mất cả lòng nhân, không xứng đáng là một Phật-tử. Phật-tử là người đạo-đức, nên ăn nói có mẫu-mực, thấy biết thế nào nói thẳng thế ấy, không điêu-ngoa dối-trá. Không nói dối là giữ lòng tin đối với mọi người xung quanh. Đức Thầy dạy rằng: “Muốn tránh những điều khiến cho tư-cách nhân-quần phải bị giảm hạ, hãy tập tánh nói năng chân-chánh, bỏ lối láo-xược trớ-trêu. Chẳng nên tráo-chác với người, bỏ tiếng xảo-ngôn và phải dùng lời chơn-chất.” (trang 192 SGTVTB 2004).

        Tuy nhiên, cũng có trường-hợp nên nói dối, đó là khi nào vì lòng từ-bi mà phải nói dối để cứu người cứu vật, nên không nỡ nói thật để người khỏi bị hại hoặc khổ-đau. Do lòng nhân cứu người cứu vật, nói sai sự thật mà không phạm tội nói dối.

5.   Không uống rượu

        Mục-đích của người tu theo đạo Phật là cầu giác-ngộ. Muốn được giác-ngộ, trước phải điềm-đạm, tỉnh-sáng, nhưng uống rượu vào thì gan ruột nóng bức, tâm-trí quay-cuồng, mất hết bình-tĩnh, không còn sáng-suốt, trái hẳn với chủ-trương giác-ngộ. Chính vì nóng-bức cuồng-loạn, có những người khi say-sưa, tội-lỗi gì họ cũng dám làm, xấu-xa gì họ cũng không sợ, mất hết cả lương-tri. Vì vậy, chúng ta thường nghe nói: “Rượu vào lời ra” hay là “Mượn rượu làm nư”. Đức Thầy dạy rằng:

                 Tửu nhiễm vào thân-thể bất an,

                  Sắc mến nó ngày kia lao khổ.”      (trang 121 SGTVTB 2004)

        Uống rượu chẳng những làm mất trí khôn, lại gây bệnh-hoạn cho thân-thể, làm di hại cho con cháu sau nầy bị đần-độn. Quả là một tai-họa cho cá-nhân và xã-hội. Người tu theo đạo Phật, vì cứu-cánh giác-ngộ, vì lợi-ích cho mình và cho người, quyết hẳn không uống rượu, và cũng không được mời rủ người khác uống. Trừ trường-hợp mắc bệnh, y-sĩ bảo phải dùng rượu hòa với thuốc mới lành thì mới được châm-chế trong lúc điều-trị và phải chấm dứt dùng rượu khi lành bệnh. Ngoài ra, Đức Thầy còn châm-chế cho trường-hợp sau đây: “... khi có tiệc lễ với người ngoàikhông phải nhằm ngày chay-lạt, có thể dùng một đôi chút rượu thật nhẹ để đừng có tỏ sự chia rẽ với kẻ ngoại Đạo. Nếu say-sưa sẽ phải tội-lỗi.” (trang 205 SGTVTB 2004)

B.- Lợi-ích của sự thực-hành Ngũ-Giới

        Người biết giữ-gìn năm giới là đã đạt được căn-bản đạo-đức và sự an-lành cho bản thân, tốt-đẹp cho gia-đình và xã-hội.

1.   Không sát-sanh: Bản thân ta không bị người giết, hoặc bị tù-tội về giết người, cũng không có thù-hận do gây ra nợ máu với nhau, không sống trong nỗi kinh-hoàng sợ-hãi. Đó là nền-tảng đạo-đức, đem lại cho con người một đời sống an-lành, một gia-đình hạnh-phúc. Suy rộng ra, nếu mỗi người trong xã-hội đều không dám giết hại thì còn phải lo gì những tang-tóc bất ngờ, còn phải sợ gì cho mạng mình không được bảo-đảm. Nếu nhân-loại đồng giữ giới không sát-sanh thì đó là một đảm-bảo thực-tế cho nền hòa-bình thế-giới vậy!

2.   Không trộm cướp: Bản thân ta không mắc tù-tội về trộm cướp, ở đâu hay đi đến chỗ nào cũng khỏi lo sợ người theo-dõi nghi-ngờ. Nếu một ngày nào trong xã-hội không ai có tâm gian-tham, trộm cướp thì nhà không cần đóng cửa, của khỏi giữ-gìn, thật còn gì sung-sướng hơn! Nhiều khi người ta khổ vì không có của, nhưng kẻ có nhiều của cũng khổ vì phải lo-sợ giữ-gìn. Người không trộm cướp tức là đã âm-thầm ban cho mọi người sự an-ổn vậy!

3.   Không tà-dâm: Bản thân ta khỏi phải lao tâm tổn trí, khỏi sợ ai bàn tán dở hay, mọi người đều tín-nhiệm tin cậy ta. Người giữ giới tà dục thanh-tịnh thì phẩm giá được nâng cao, gia-đình đầm-ấm; gần ai, người ta đều mến-chuộng, tin yêu; kẻ ấy tâm-hồn hằng an-tịnh vì không bị sắc-dục lôi-cuốn xao-động.

4.   Không nói dối: Gây được niềm tin, uy-tín đối với mọi người, lời nói tự có giá-trị, chính ta không phải hối-hận về sau. Người hay nói dối sẽ bị xã-hội đánh giá thấp, đề-xướng điều gì cũng đều bị nghi-ngờ, làm việc gì ít được ai tán-trợ. Trong một gia-đình, một xã-hội mà không ai tin ai thì làm sao sống chung? Giả-sử gắng gượng sống chung, nhưng ôm-ấp bao sự nghi-ngờ, dè-dặt thì còn gì là hạnh-phúc, là thân-mật. Thử nghĩ: Một người nói dối, mười người nói dối, cho đến cả xã-hội đều nói dối thì nhân-loại sẽ như thế nào?

5.   Không uống rượu: Chính ta khỏi bị tệ nạn điên-cuồng mất trí, khỏi gây cho cơ-thể bệnh-hoạn suy-yếu, khỏi bị người khinh-thường trong lúc say-sưa. Trái lại, bản thân ta điềm-đạm bình-tĩnh, thân-thể khỏe-mạnh, đối với mọi người đều được quý kính, sanh con cũng thông-minh sáng-suốt. Hơn nữa, những khi quá chén, dễ sinh ra cãi-vã đánh-đập, làm rối-loạn xóm làng, gây khổ-đau cho bạn-bè, quyến thuộc; là duyên-cớ gây xáo-trộn trong gia-đình, và làm mất trật-tự chung ngoài xã-hội. Vì vậy, người không uống rượu là kẻ biết đem lợi-ích thiết-thực cho bản thân, hạnh-phúc của gia-đình và an-lạc của xã-hội.

        Có người hỏi rằng: “Trong lúc trẻ tuổi, còn phải bay nhảy với đời, không thể giữ trọn năm giới, nên tôi chưa tu theo đạo Phật được phải không?”  Phật không bắt-buộc chúng ta phải giữ hết tất cả giới-luật. Tùy khả-năng, hoàn-cảnh, mỗi người giữ được bao nhiêu, tốt bấy nhiêu. Bởi vì giới là cái cửa của ngôi nhà công-đức, nếu chúng ta đóng được một cửa thì đỡ một phần giữ-gìn trộm cướp, đóng hai cửa thì đỡ hai phần, đóng trọn-vẹn thì ta hoàn toàn an-ổn, mặc tình vui-chơi an-nghĩ. Như vậy, đâu phải giữ đủ năm giới thì mới tu theo Phật được. Xét kỹ ra, trong đời tu, ai tệ gì cũng giữ được vài giới thì có ai mà không tu theo đạo Phật được. Tuy nhiên, nếu người tu muốn đạt đến cứu-cánh giác-ngộ thì việc giữ-gìn năm giới trở nên rất cần-thiết và hệ-trọng.

        Chỉ trong năm giới thôi, nếu gia-đình nào gìn-giữ trọn vẹn là gia-đình ấy có hạnh-phúc, trên thuận dưới hòa, tin yêu thuần-cẩn. Nếu mọi người trong xã-hội ứng-dụng triệt-để là một xã-hội văn-minh, chan-hòa sự cảm-thông và thương-mến. Chúng ta vì lợi-ích bản thân, vì hạnh-phúc của gia-đình, vì sự an-lạc của xã-hội, hãy nổ-lực gìn-giữ năm giới. Mỗi cá-nhân tốt chung sống trong một gia-đình thì gia-đình trở thành tốt. Nhiều cá-nhân tốt chung sống hòa-hợp thành một xã-hội thì xã-hội tốt. Năm giới có công-dụng cải-tạo con người tốt, nên nó là nền-tảng đạo-đức để xây-dựng gia-đình và xã-hội tốt vậy!

C.- Tương-quan của Ngũ-Giới trong Giáo-Lý Phật-Giáo Hòa-Hảo

        Về giới-luật tín-đồ, Đạo Phật phân ra làm hai hạng:  Hạng cư-sĩ tại gia, và hạng xuất gia. Hạng tu tại gia thì gìn-giữ Ngũ-giới hay Thập-giới, còn về hạng xuất gia thì Tỳ-Kheo giữ 250 giới và Tỳ-Kheo-Ni giữ 348 giới.

        Tín-đồ Phật-Giáo Hòa-Hỏa thuộc về hạng cư-sĩ tại gia, đáng lý thọ Ngũ-giới hay là Thập-giới, nhưng Đức Thầy đặt ra Bát-giới tức là Tám điều răn-cấm. Sở dĩ có chỗ không đồng nhứt, là vì căn cơ của chúng-sanh ở thời hạ-ngươn mạt-pháp, và để phù-hợp với pháp-môn Học Phật Tu Nhân, mà cứu-cánh là đưa dắt chúng-sanh đến đời Thượng-Ngươn hay được vãng-sanh về cõi Cực-Lạc.

        Thắng diệu của Phật-pháp là luôn luôn đối cơhạp duyên. Có nghiên-cứu Tám điều răn-cấm của Đức Thầy, chúng ta sẽ thấy chỗ diệu-dụng và siêu-thắng ấy. Trong Tám điều răn-cấm (Lời Khuyên Bổn-Đạo), Đức Thầy dạy rằng:

        “Điều thứ nhứt:  Ta chẳng nên uống rượu, cờ-bạc, á-phiện, chơi bời theo đàng điếm, phải giữ cho tròn luân-lý tam-cang ngũ-thường.”  (trang 214 SGTVTB 2004)

        Uống rượu, cờ-bạc, hút á-phiện chơi bời theo đàng điếm, là bốn tật xấu của con người trụy-lạc mà người đời gọi là tứ-đổ-tường.  Người mà đụng vào một trong bốn bức tường trên đây cũng đủ cho thế nhân khinh-bĩ, trong Sấm Giảng Đức Thầy gọi là bốn ma:

                 “Người tu hành phải trừ nghiệp-chướng,

                  Với bốn ma mới đặng an nhàn.”        (trang 121 SGTVTB 2004)

        Hay là:

                 “Chốn tửu-điếm ta nên xa lánh,

                  Tứ-đổ-tường đừng có nhiễm vào.

                  Người tránh xa mới gọi trí cao,

                  Sa bốn vách mang điều nhơ-nhuốc.”  (trang 78 SGTVTB 2004)

        Về bốn tật xấu trên đây, Đức Thầy khuyên nên tránh hẳn nếu không cử tuyệt thì không được vào đạo (xem quyển Qui-Tắc Hành Đạo). Nhưng đồng thời với sự ngăn-ngừa điều ác, còn phải thực-hành các điều thiện. Thế nên, song hành với điều khuyên trừ bỏ tứ-đổ-tường, Đức Thầy khuyên gìn-giữ luân-lý tam-cang, ngũ-thường tức là những điều căn-bản của Đạo Nhân.

        Luân-lý là những điều đạo-lý tốt-đẹp, những thuần-phong mỹ-tục của xã-hội loài người.  Một xã-hội mà thiếu luân-lý thì không còn là xã-hội loài người nữa, vì con người sống không khác gì loài thú.

        Còn Tam-cang là ba giềng mối liên-hệ của con người: Đạo vua tôi, Đạo cha con, Đạo chồng vợ.  Vua tôi có bổn-phận lấy chữ trung đối với nhau; Cha con có bổn-phận lấy chữ hiếu đối với nhau; Vợ chồng có bổn-phận lấy chữ nghĩa đối với nhau. Đạo vua tôi còn gọi là Đạo quân thần, và ngày nay gọi là Đạo quốc dân. Đức Thầy dạy rằng:

                 “Rán giữ-gìn luân-lý tam-cang,

                   Tròn đức-hạnh mới là báu-quí.”     (trang 84 SGTVTB 2004)

        Ngoài Tam-cang, con người còn có Ngũ-thường, là năm mối Đạo dạy cách cư-xử hằng ngày: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

1.   Nhân là gì? – Sách có câu: “Trắc ẩn chi tâm, nhân chi đoan giả”, nghĩa là lòng thương yêu mọi người là mối đầu của lòng nhân. Người có lòng nhân hay tha-thứ kẻ lỗi-lầm, thường ra tay giúp-đỡ kẻ thiếu-hụt và thương-yêu người lâm-nạn bằng cách tận-lực làm những việc cần-thiết để cứu-giúp họ qua cơn nguy-nan, không chủ-trương sát-sanh hại mạng (người hay thú vật), và đối với cha mẹ thì đầy lòng hiếu-hạnh.

2.   Nghĩa là gì? – Trong gia-đình, đó là người có đầy lòng thương-mến và giúp-đỡ khi thân nhân gặp khó-khăn, đem hết tâm-trí nghị-lực của mình làm việc lợi-ích cho nhau, nghĩa là phải biết cùng sống còn, cùng vinh-hạnh trên lẽ phải và phải biết cứu nhau lúc nguy-biến. Đối với xã-hội, đó là người làm việc công-ích, phụng-sự xã-hội không vì mục-đích danh-lợi cá-nhân, không bao giờ chủ-trương làm những việc bất-lương, đạo-tặc, và luôn luôn giữ tiết-tháo, việc làm chơn-chánh, mặc dầu rất nghèo-khó cũng không chiếm-đoạt của người một cách phi-lý.

3.   Lễ là gì? – Lễ-phép hay lễ-độ, biểu-hiện lòng kính-mến, đạo-đức căn-bản của con người qua các phong-tục và tập-quán của xã-hội, chẳng hạn như nam và nữ khi hầu chuyện với nhau phải giữ-gìn lời-lẽ lễ-độ, cử-chỉ đoan-trang, không nên cười nói diễu-cợt tục-tằn hay khêu-gợi lòng tà-dâm, và cũng không có lòng nghĩ quấy.

4.   Trí là gì? – còn gọi là tri-thức, là người sáng-suốt, có khả-năng nhận-định sự việc đúng như sự thật của nó. Muốn được tỉnh-sáng, người có trí không được uống rượu; không cờ-bạc hay hút á-phiện vì đó là nguyên-nhân gây ra tán-gia bại-sản, mỏi-mòn xác thân; không đam-mê sắc đẹp vì làm cho con người mờ-ám trí-tuệ; không làm những việc phi-nghĩa bất-lương vì sẽ gây khổ-báo lâu dài cho đời mình, làm hại danh-giá gia-đình, hay phong-hóa nước nhà.

5.   Tín là gì? – Tin-tưởng. Muốn tạo được sự tin-tưởng của mọi người thì không được nói những lời sai sự thật, khác với điều nhận thấy. Nếu thấy thế nầy mà nói ra thế khác, nói sai sự thật cốt lừa-bịp người, hoặc ý-nghĩ một đường nói ra một ngả cốt che đậy lỗi-lầm của mình,... gọi là nói dối. Nói dối là nguyên nhân gây mất lòng tin của nhau. Nếu mọi người đều không tin thì kẻ nói dối dù có mặt trong xã-hội nầy cũng coi bằng thừa: “Nhân vô tín bất lập”, đó là lời dạy của Đức Khổng-Tử. Nói dối là một tai-hại lớn lao cho chính mình và cho xã-hội.

        Vì vậy, tín-đồ PGHH hành trọn vẹn Ngũ-thường trong “Điều thứ nhứt” của Tám điều răn-cấm là gìn-giữ được Ngũ-giới của Đức Phật đã dạy, nghĩa là:

·       Hành được chữ nhân thì không sát-sanh.

·       Hành được chữ nghĩa thì không trộm cướp (không đạo-tặc).

·       Hành được chữ lễ thì không tà-dâm (không tà-dục).

·       Hành được chữ trí thì không uống rượu, cờ bạc, á-phiện, chơi bời theo đàng điếm (không ô-nhiễm Tửu, Sắc, Tài, Khí).

·       Hành được chữ tín thì không nói dối (không vọng ngữ).

        Với điều răn thứ nhứt nầy, Đức Thầy muốn khuyên dạy tín-đồ của Ngài hành-sử Đạo Nhân, tức là đạo làm người, con người không sống bê-tha mà là con người ăn ở đúng với Luân-lý, phù-hợp với đạo Tam-cang, Ngũ-thường. Đây cũng chính là chỗ vi-diệu mà Đức Thầy đã đem Ngũ-Giới của nhà Phật lồng vào Điều thứ nhứt của Tám điều răn-cấm để giảng-dạy tín-đồ của Ngài ở thời hạ-ngươn mạt-pháp.

        Tóm lại, sự khổ-đau của con người không gì hơn khi họ nghĩ đến sinh-mạng của họ bị đe-dọa, tài-sản của họ bị mất-mát, người yêu của họ bị xâm-phạm. Chính đây là nỗi thống-khổ khắc-nghiệt nhất của con người. Vì muốn cứu khổ đem vui lại cho con người, nên Phật cấm Phật-tử không được sát-sanh, trộm cướp, tà-dâm. Sự sống chung-đụng trong gia-đình và ngoài xã-hội cần phải có sự tin-tưởng lẫn nhau, tình-thương không thể có nếu con người không tin-tưởng và cảm-thông nhau, nên Phật cấm Phật-tử không được nói dối. Đạo Phật chủ-trương giác-ngộ, muốn được giác-ngộ thì người tu phải điềm-đạm, tỉnh-sáng, nên Phật cấm Phật-tử không được uống rượu.

        Chính bao nhiêu đó, chúng ta thấy lòng từ-bi lai-láng của Đức Phật. Tinh-thần cứu khổ ban vui của Đạo Phật đã thể-hiện rõ-ràng trong năm giới nầy. Vì thương mình thương người, nên mỗi tín-đồ chúng ta phải cố-gắng gìn-giữ và khuyên mọi người gìn-giữ. Đó cũng chính là sự thực-hành căn-bản của Đạo Nhân, tức là đạo làm người mà Đức Thầy hằng khuyên dạy các môn-đồ của Ngài:

           “Tam-qui ngũ-giái (giới) lòng hằng gìn theo.” (trang 433 SGTVTB 2004)

        Và nhớ làm theo lời dặn của Ngài thì tu theo Đạo PGHH mới có kết-quả:

                    “Qui-y thì khá làm y,

            Giữ lòng thanh-tịnh từ-bi giúp đời.”   (trang 433 SGTVTB 2004)

Nam-Mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật

Nam-Mô A-Di-Đà Phật

 

Nguyễn-Trung-Hiếu

(Thuyết giảng vào Ngày Lễ Phật Đản tại Toronto 22-4-2012 d.l.)

Tài-liệu tham-khảo:

1.    SẤM GIẢNG THI VĂN TOÀN BỘ (SGTVTB 2004) của Đức Huỳnh Giáo Chủ, Ban Trị-Sự Trung-Ương Hải-Ngoại, Giáo Hội PGHH, ấn bản năm 2004 tại Hải Ngoại.

2.    Chú Nghĩa Pháp Môn HỌC PHẬT TU NHÂN của Thanh Sĩ và Vương Kim, ấn bản năm 2000 tại Hoa Kỳ.

Chú Giải SẤM GIẢNG THI VĂN TOÀN BỘ của Thiện Tâm (Lưu hành nội bộ).
 
 
Comments