2011/09/25 - Tìm-hiểu về Hạnh BỐ-THÍ

Tìm-hiểu về Hạnh BỐ-THÍ

         Bố-thí đem cái sở-hữu của mình giúp cho kẻ khác; là hành-động hiến tặng vật-chất, năng-lực hoặc trí-tuệ cho sự an-lạc, hạnh-phúc của người khác;  bố-thí được xem là hạnh quan-trọng nhất trong sáu Hạnh (Lục-độ Ba-La-Mật: Bố-thí, Trì-giới, Nhẫn-nhục, Tinh-tấn, Thiền-định, Trí-tuệ) của Phật-pháp.  Vì vậy, Đức Thầy hằng dạy như sau:

                              Của dư cho mượn mới là,

                       Hảo tâm bố-thí ngọc-tòa được lên.”  (tr. 318 SGTVTB 2004)

         hay là:

                     Đồ-lao muốn lánh sớm nghe ta,

                           Bố-thí trì chay giữ giới mà.

                      Phật Đạo trau-giồi tâm tánh lại,

                      Giác thuyền chuyên chở lúc can-qua.” (tr. 382 SGTVTB 2004)

         Khi nói đến sự bố-thí, chúng ta nhận thấy có ba yếu-tố tạo ra nó, đó là: người cho (năng thí), món đồ cho (vật thí), và người nhận (sở thí).  Ba yếu-tố nầy rất quan-trọng, nếu thiếu một trong ba yếu-tố đó thì sẽ không có sự bố-thí.  Chẳng hạn như có người cầm trong tay một món đồ muốn cho mà không có ai nhận thì không có sự bố-thí.  Có món đồ mà không có người cho và người nhận thì cũng không có sự bố-thí.  Có người sẵn-sàng nhận đồ mà không có ai cho thì cũng không có sự bố-thí.  Do đó, chúng ta sẽ căn-cứ trên ba yếu-tố kể trên để tìm-hiểu thêm về hạnh bố-thí.

                                I.-  Người cho (năng thí)

         Trên phương-diện người cho thì có hai loại:  Bố-thí trong-sạch và không trong-sạch.

1.   Bố-thí trong-sạch:

         Đó là bố-thí với ý muốn đem lại lợi-ích cho người nhận.  Riêng cho người tu hành thì bố-thí trong-sạch còn có nghĩa là bồi-đắp công-đức cho sự giải-thoát, tức Niết-Bàn.

2.   Bố-thí không trong-sạch:

         Đó là bố-thí vì: tư-lợi, bất-kính, chán-ghét, muốn dụ-dỗ, muốn chọc-tức, muốn mê-hoặc lòng người; hay vì ghen-tức, ganh-đua, kiêu-ngạo, cầu danh, ... hay là bố-thí vì một cái tâm xấu-xa, không nghĩ đến sự an-vui hay lợi-ích cho người nhận.

                                II.-  Vật thí

         Trên phương-diện vật thí thì có ba loại:  Tài thí, Pháp thí, và Vô Úy thí.

1.   Tài thí

         Tài thí lại được chia ra làm hai loại:  Ngoại thí và Nội thí.

a)  Ngoại thí:  Đem thí những gì thuộc bên ngoài của mình, như: Tiền của, vải lụa, lúa gạo, thuốc men ban cấp cho kẻ nghèo đói, bệnh tật, … Hơn nữa, Tài thí chân chính là những đồ vật được bố-thí không phải do từ trộm cắp hay cướp giựt.  Nếu ngược lại là tài thí không chân-chính.

b)  Nội thí:  Đem thí khả-năng công sức của mình vào việc từ-thiện như là làm các công-tác xã-hội bất vụ lợi, chẳng hạn như hiến máu cho bệnh nhân ở nhà thương, hoặc ký giấy hiến tặng những bộ-phận trong cơ-thể của mình nếu bị chết bất đắc kỳ tử, ...

    Song phần tài thí chỉ là phương-tiện đầu để thu-nhiếp cảm-tình của người rồi sang pháp thí.

2.   Pháp thí

         Pháp thí là đem chánh-pháp chỉ dạy cho người được tỉnh-giác; dùng lời lẽ trí-tuệ giảng dạy Đạo lý, nhắc-nhở cho người khác nhận biết sự hiểm-nguy của sanh tử bằng những lời Phật dạy với hy-vọng họ sẽ hiểu và vượt thoát khỏi luân-hồi sanh tử.

         Giáo-hóa cho chúng-sanh được giác-ngộ là phần giác-tha của Bồ-Tát, như Đức Thầy hằng thể-hiện:

                 “Lòng thương chúng thuyết phương Tịnh-Độ,

                  Đặng dắt-dìu tất cả chúng-sanh.”         (tr. 155 SGTVTB 2004)

         hay là:

                        “Có người tu-niệm đáng thương,

                 Điên mới chỉ đường Tịnh-Độ vãng sanh.”  (tr. 54 SGTVTB 2004)

         Đối với Cư-sĩ tại gia thì việc ấn tống Kinh giảng để người khác được xem nghe, tỉnh-ngộ lo tu hành cũng là pháp thí, như Đức Thầy đã dạy:

                 “Ai lòng nhơn hoặc chép hay in,

                  Mà truyền-bá đặng nhiều phước-đức.” (trang 86 SGTVTB 2004)

         hay là:

                 “Ai làm phước in ra mà thí,

                  Thì được nhiều hạnh-phúc sau nầy.”   (trang 134 SGTVTB 2004)

         hoặc là:

                 “Nên cố-gắng trau thân gìn Đạo,

                  Hiệp cùng nhau truyền bá kinh lành.”  (tr. 150 SGTVTB 2004)

         Ngược lại, Pháp thí không chân-chánh là giảng dạy những giáo-pháp của ngoại đạo, không đưa con người đến sự giải-thoát sanh tử luân-hồi (như dạy xuất hồn, dạy làm bùa phép, thư ếm, v..v…).

3.   Vô Úy thí

         Vô úy thí là dùng những phương-tiện giúp người qua cơn kinh-sợ hãi-hùng, chẳng hạn như dùng lời lẽ an-ủi hoặc đem tánh mạng đỡ-gạt hay bảo-vệ cho người được an-ổn …  Song, cái sợ to lớn nhất là biển khổ sanh tử, Bồ-Tát hay chư Phật thường chèo thuyền Bát-Nhã cứu người qua khỏi biển khổ là vô úy thí:

                 Thuyền từ-bi thẳng cánh lướt sang,

                  Qua Đông-độ vớt người hữu đức.”      (trang 340 SGTVTB 2004)

         hay là:

                         “Văn-Thù Bồ-Tát từ-bi,

              Chèo thuyền Bát-Nhã cứu thì trần-gian.”  (tr. 104 SGTVTB 2004)

         Còn yếu-tố thứ ba của sự bố-thí là gì?

III.-  Người nhận (sở thí hay ruộng phước)

         Tại sao lại gọi người nhận là ruộng phước?  Tại vì chính ở nơi họ mà chúng ta gieo được hạt giống phước-đức nên gọi là ruộng phước.  Nhờ có họ mà chúng ta mới thực-hiện được sự bố-thí.  Có hai loại ruộng phước: Ruộng phước nhỏ và ruộng phước lớn.

1.   Ruộng phước nhỏ

         Nếu vì lòng thương-hại người nhận nên chúng ta phát tâm bố-thí thì những hạt giống thương-hại đó sẽ cho ra những cây lúa nhỏ, nên gọi là ruộng phước nhỏ.  Thí-dụ: Chúng ta thấy các em bé mồ-côi, tàn-tật, ... vì lòng thương-hại nên chúng ta gởi tiền bạc để nuôi-nấng.

2.   Ruộng phước lớn

         Nếu vì lòng kính-trọng người nhận nên ta phát tâm bố-thí thì những hạt giống kính-trọng sẽ cho ra những cây lúa lớn, nên gọi là ruộng phước lớn.

         Kinh Phật kể rằng: Thuở đó có ông Trưởng-giả sinh được cô con gái, dung-nghi tốt đẹp.  Nhưng lạ thay! Cô nầy sinh ra đã có miếng lụa trắng bọc quanh người.  Thấy thế, cha mẹ cô cho là điều quái-gở nên mới mời thầy về coi, thầy nói:

-     Ông bà không phải lo, cô gái của ông bà có phước lớn, và tôi xin đặt tên cho cô là Thúc-Ly.

         Thúc-Ly lớn thì miếng lụa cũng lớn theo.  Cô xinh-đẹp lại con nhà sang-trọng, nên trong nước nơi xa, nơi gần đều đến cầu hôn, nhưng cô không ưng-thuận một ai.  Hôm ấy, cha cô cho gọi thợ về làm đồ nữ-trang, cô hỏi:

-     Thưa cha!  Cha cho làm những vật nầy để làm gì?

-     Con đã lớn tuổi, cha làm cho những vật nầy để gả chồng cho con.

-     Thưa cha! Vợ chồng chỉ có nhất thời, con xét vô-ích, chỉ gây thêm đau-khổ cho mình mà thôi, ý con muốn xuất-gia tu đạo giải-thoát là hơn.

         Ông bà chỉ sanh được mình cô, nên tùy-ý chứ không cưỡng-ép.  Hôm sau, ông đi mua lụa sạch-điệp về may áo, cô hỏi :

-     Thưa cha!  Lụa nầy để may áo gì?

-     Cha cho may áo Ngũ-Điều cho con đi xuất-gia!

-     Thưa cha! Khỏi phải may nữa! Tấm áo con đang mặc đây đủ rồi, xin cha dẫn con đến nơi Phật ngự!

         Hôm sau, cả hai ông bà cùng cô con gái đi yết-kiến Phật.  Tới nơi, cô cúi đầu làm lễ bạch rằng:

-     Kính lạy Đức Thế-Tôn! Thân người khó được, gặp Phật tại thế lại khó hơn, cúi xin Ngài từ-bi tế-độ cho con được xuất-gia tu đạo!

         Phật dạy: Thiện Lai Tỷ-Khưu! Ngài nói dứt lời thì đầu cô rụng hết tóc, còn tấm lụa trên mình cô biến thành áo Cà-Sa Ngũ-Điều.  Phật giao cô cho bà Đại-Ái-Đạo Tỷ-Khưu dạy bảo pháp tu.  Cô tu hành tinh-tấn, chẳng bao lâu chứng quả A-La-Hán.  Thấy thế, A-Nan quỳ xuống thưa rằng:

-     Kính lạy Đức Thế-Tôn!  Thúc-Ly Tỷ-Khưu Ni xưa tu công-đức gì? Nay lại được sinh vào nhà tôn-quý, lại có mảnh lụa trắng sinh theo, xuất-gia chưa được bao lâu đã chứng quả A-La-Hán.  Cúi xin Đức Thế-Tôn chỉ giáo cho chúng con được rõ.

         Đức Phật dạy rằng:

-     A-Nan! Đời quá-khứ đã quá lâu xa, có Đức Phật ra đời, hiệu là Tỳ-Bà-Thi, thường ngày Ngài cùng các đệ-tử đi tế-độ nhân-gian, đi đến đâu vua quan dân chúng cũng cúng-dường rất đông, và đặt ra những kỳ đại-hội để thỉnh Phật thuyết-pháp.

         Khi đó, có một thầy Tỷ-Khưu có lòng quảng-đại, muốn tiếp phúc cho nhân-dân, nên ngài đi khuyến-hóa từng nhà, làm hạnh bố-thí và nghe thuyết-giảng chánh-pháp của Như-Lai.  Vào lúc đó, có một thiếu-phụ nhà rất nghèo, hai vợ chồng chỉ có một mảnh vải che thân; nếu chồng đi xin thì chồng mặc, vợ trần truồng ngồi trong đống cỏ khô; nếu vợ đi xin thì vợ mặc, chồng trần-truồng ngồi trong đống cỏ khô.

         Thầy Tỷ-Khưu đi qua ngó thấy cô, Ngài nói rằng:

-     Cô nên biết: Được sinh làm người là khó, gặp Phật tại thế lại càng khó hơn.  Hiện nay, Phật đang thuyết-pháp, cô đi đến nghe pháp sẽ được phước vô-lượng, còn người bỏn-sẻn sẽ bị tội nghèo-đói, chăm làm hạnh bố-thí thì được phước giàu-sang.

-     Dạ!  Kính bạch Đại-Đức, con rất sung-sướng được nghe lời của Ngài giáo-hóa, xin Ngài hãy đứng đây, và chờ con một chút!

Cô vào nhà bảo chồng rằng:

-     Anh ơi! Ngoài ngõ có một vị Sa-Môn khuyên chúng ta nên đến gặp Phật, để nghe Phật thuyết-pháp, và khuyên ta nên làm việc bố-thí.  Vì đời trước không biết bố-thí nên kiếp nầy bị nghèo đói.  Bây giờ ta phải làm cách gì để trồng cái nhân lành, ngõ hầu kiếp sau mới có phần an-hưởng.

Anh chồng đáp:

-     Nhà ta nghèo đói như thế nầy, được bữa hôm nay mất bữa mai, biết lấy gì mà bố-thí.

-     Anh ơi! Do đời trước bỏn-sẻn, lại không biết làm hạnh bố-thí cho nên đời nầy bị nghèo-khốn.  Nếu kiếp nầy không làm nhân bố-thí thì đời sau lấy phước gì để nương-cậy?  Bây giờ anh hãy nghe tôi, tôi quyết-định bố-thí.

         Người chồng thầm nghĩ: “Hay là vợ ta có chút của riêng”, thôi thì cứ đồng-ý đi; người chồng trả-lời:

-     Phải! Em cứ bố-thí đi, việc đó anh rất vui-lòng!

-     Thưa anh! Em muốn đem mảnh vải của em đang khoác  đây ra để cúng-dường, anh có ưng-thuận không?

-     Hai vợ chồng chúng ta chỉ có một mảnh vải nầy, che thân để hằng ngày đi xin nuôi nhau.  Bây giờ đem cúng-dường thì lấy gì che thân mà đi xin, ngồi nhìn nhau mà chết hay sao?

-     Anh ơi! Con người ai cũng phải chết, không bố-thí với bố-thí rồi cũng chết cả; thà bố-thí mà chết, đời sau còn có phước lành, hưởng quả-báo giàu-sang; không làm hạnh cúng-dường bố-thí thì sau rồi cũng chết, trái lại đời sau không có nhân lành trông-cậy.

         Người chồng nghe vợ nói phải, vui-vẻ đáp:

-     Em nói thế hay lắm! Bây giờ chúng ta giữ lấy phần chết, đem cúng-dường để cầu phước lành cho đời sau!

         Cô thấy chồng có lòng cương-quyết và vui-vẻ, nên ra thưa rằng:

-     Kính bạch Đại-Đức, xin Ngài trèo lên mái nhà, con có chút vật mọn nầy dâng Ngài về cúng Phật.

-     Muốn cúng thì dâng trước mặt ta, để ta chú-nguyện cho, chứ trèo lên mái nhà để làm chi?

-     Bạch Đại-Đức! Vợ chồng con chỉ có một mảnh vải nầy, trong nhà không có vật gì khác nữa, sợ lõa-lồ thân-thể đàn bà xấu ác, tội nghiệp.  Nói xong, vào nhà đóng cửa, cởi mảnh vải vất qua cửa sổ đề cúng-dường.

         Thầy Tỷ-Khưu thấy vợ chồng nhiệt-tâm như vậy, mặc dù bẩn cũng cứ nhận làm phép chú-nguyện mang về dâng Phật.

         Vừa về tới tịnh-xá, Phật hỏi ngay:

-     Tỷ-Khưu mang mảnh vải ấy lại cho ta!

-     Dạ! Kính lạy Đức Thế-Tôn, nhận lòng thành cúng-dường của vợ chồng nhà nghèo.

         Phật liền đỡ lấy, và có vẻ thương! Lúc đó có ông Vua, Hoàng-hậu, cung-phi, thể nữ, quan đại-thần, dân-chúng đang ngồi nghe Phật thuyết-pháp, ai cũng có chút tâm lạ với Phật, vì Phật cầm mảnh vải đầy nhơ-bẩn tanh-hôi.  Phật biết tâm của đa-số người như thế, Ngài nói:

-     Ta xem trong đại-hội nầy, phát tâm làm việc bố-thí lớn và thanh-tịnh, thì không ai hơn được người nầy!

         Nghe Phật nói, tất cả đại-hội đều sợ, Bà Hoàng-hậu vui-vẻ cởi áo của mình và nữ-trang, Vua cũng lấy áo và tiền bạc, sai người mang đến cho hai vợ chồng Đàn-Ly-Già, và mời ngay đến chốn Phật nghe pháp.

         Nhân thế, Đức Phật thuyết về phước-báo bố-thí và tội keo-sẻn, trộm-cắp cho đại-chúng nghe.  Tới đây Phật nhắc lại rằng:

-     A-Nan! Ông nên biết, vợ Đàn-Ly-Già thuở đó nay là Tỷ-Khưu Ni Thúc-Ly vì phát tâm thanh-tịnh cúng-dường, nên trong chín-mươi-mốt kiếp, sinh nơi đâu cũng có tấm lụa sinh theo, lại được giàu-sang sung-sướng an-vui.  Cũng bởi nghe Phật thuyết-pháp và có tâm cầu giải-thoát, nên đời nay gặp ta chứng quả A-La-Hán như thế đó.  Các ông cũng nên tinh-tấn nghe pháp và bố-thí, ngày sau sẽ được kết-quả trang-nghiêm.

         Phật thuyết xong, có rất nhiều người phát tâm cúng-dường, làm hạnh bố-thí, ai nấy đều vui-vẻ lễ kính mà lui.

         Sự-tích trên cho chúng ta thấy ý-nghĩa phước-báo của một sự bố-thí với lòng kính-trọng người nhận, tức được ruộng phước lớn.

         Sau khi phân-tách và đi sâu vào chi-tiết từng loại bố-thí, chúng ta nhận thấy rằng:  Một sự bố-thí được xem là trong-sạch và đem lại phước-đức vô-lượng vô-biên cần phải hội đủ ba yếu-tố sau đây:

1).    Người bố-thí phải có tâm trong-sạch,

2).    Vật được thí phải chân-chính,

3).    Người nhận phải được kính-trọng tối đa.

         Hơn nữa, vật thí cần phải thích-hợp với nhu-cầu của người nhận, như Đức Thầy đã dạy:

                 “Gặp cơn mưa ta hãy cho tơi,

                  Lúc hạn nắng từ-bi giúp nón.”       (trang 344 SGTVTB 2004)

         Ngoài ra, hễ đứng ra bố-thí thì không cần đến sự báo-đáp của người được bố-thí, như Đức Thầy đã dạy:

                          Giúp đời đừng đợi trả ơn,

                 Miễn tròn bổn-phận hay hơn bạc vàng. (trang 109 SGTVTB 2004)

         Kinh Phật cũng cho biết:  Ai bố-thí thì sẽ được sung-túc, an-lạc, phong-lưu.  Ngược lại, ai không bố-thí hoặc ngăn-cản người khác bố-thí thì phải chịu nghèo-hèn, khổ-cực.

         Có người thắc-mắc:  Vì nghèo quá, không có tiền của thì làm sao bố-thí?  Nên nhớ rằng:   Tài thí bao gồm Ngoại thí và Nội thí; Ngoại thí là dùng tiền của, vật-chất để bố-thí; Nội thí là dùng tài-năng, công-sức để bố-thí.  Vì vậy, đối với người nghèo thì nên dùng công-sức để bố-thí, chẳng hạn như tham-gia làm các công-tác từ-thiện xã-hội bất vụ lợi.

         Là người con Phật, sau khi ý-thức được rằng: Tham-lam là một trong mười tội ác (thập-ác) và những tai-hại do lòng Tham mang lại, chúng ta phải tìm cách trừ-khử chúng ra khỏi thân tâm bằng cách mở lòng bố-thí; thể-hiện đức-tánh từ-bi, bác-ái.  Điều nầy đã được Đức Thầy chỉ dạy trong bài “Luận về Tam-Nghiệp” như sau: “Hãy nghĩ đến người cũng như mình nghĩ đến mình, hãy dẹp lòng vị-kỷ tham-lam, lo vun-trồng phước-đức, bố-thí cho kẻ nghèo hèn, rán công-phu sám-hối để có thể yên vui nơi miền Cực-Lạc, lánh sự giả tạm ở cõi trần nầy.” (trang 193 SGTVTB 2004).  Và trong bài “Chư Phật có bốn đại-đức”, Đức Thầy cũng có dạy: “Ta cũng nên bố-thí, nhẫn-nhục, trì-giới (để độ tham, sân, si).” (trang 452 SGTVTB 2004).

         Tóm lại, nếu đã quy-y Phật-pháp, tu-hiền theo Phật-đạo, thì hạnh bố-thí cũng rất cần để chúng ta thường-xuyên huân-tập; nhất là hạng Cư-sĩ tại gia thì có rất nhiều cơ-hội và điều-kiện để thực-hành công-đức bố-thí, như lời Đức Thầy nhắc-nhở trong bài “Khuyên người giàu lòng phước-thiện”:

                 “Nếu đã xả thân tầm đạo-đức,

                  Mở lòng bố-thí ngộ thần ca.”            (trang 320 SGTVTB 2004)

Nam-Mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật

Nam-Mô A-Di-Đà Phật

 

Nguyễn-Trung-Hiếu

Sách Tham Khảo:

1.  SẤM GIẢNG THI VĂN TOÀN BỘ (SGTVTB 2004) của Đức Huỳnh Giáo Chủ, Ban Trị-Sự Trung-Ương Hải-Ngoại, Giáo Hội PGHH, ấn bản năm 2004 tại Hải Ngoại.

2.  Chú Nghĩa Pháp Môn HỌC PHẬT TU NHÂN của Thanh Sĩ và Vương Kim, ấn bản năm 2000 tại Hoa Kỳ.

3.  Chú Giải SẤM GIẢNG THI VĂN TOÀN BỘ của Thiện Tâm (Lưu hành nội bộ).

4.  Góp Nhặt LÁ BỒ ĐỀ của Trương Văn Thạo và Nguyễn Văn Hiệp, ấn bản năm 2010 tại Hoa Kỳ.
 
Comments