2010/04/11 - Tìm-Hiểu về Hạnh NHẪN-NHỤC

Tìm-Hiểu về Hạnh NHẪN-NHỤC

Hơn hai ngàn năm trăm năm mươi năm (2550) trước đây, trong bốn mươi chín (49) năm trụ thế hoằng Pháp độ sinh của Đức Phật Thích-Ca, Ngài thường đem Pháp Nhẫn mà dạy đời, vì đó là một trong sáu chiếc đò Lục-Độ (bao gồm sáu Pháp:  Bố-thí, Trì-giới, Nhẫn-nhục, Tinh-tấn, Thiền-định, Trí-huệ), là một Đại-Chu-Thoàn để đưa chúng-sanh khỏi bến sông mê về bên bờ Giác. Ngài còn cho biết tánh sân-hận là một tai-hại rất lớn, vì cơn giận sẽ làm cho con người cuồng-trí, mất sự tự-chủ, trở nên dữ-dằn, bạo-tợn, và ngọn lửa sân có thể đốt cháy cả rừng công-đức (Nhứt tin chi hỏa, năng thiêu vạn khoảnh công đức chi sơn).  Do đó, người tu hành mặc dù đã nhiều năm khổ-hạnh, nhưng nếu không trừ được tánh nóng-giận của mình thì đường tu khó mong đạt thành sở nguyện, ví như ông Cốt Đầu Lâm Thất đã dày công tu tập, chứng đến Ngũ-Thông, nhưng vì không diệt được tánh sân nên phải đầu thai sanh vào đường ác đạo.

Vì vậy, nhẫn-nhục được xem là đệ nhứt đạo, bởi vì người tu trước tiên là phải diệt trừ tâm nhân-ngã, kế đến là không còn kẹt chỗ thọ-cảm, đó tức là chơn tâm Bồ-đề (Nhẫn-nhục đệ nhứt đạo, tiên tu trừ ngã nhân, thị lại vô sở thọ tức chơn Bồ-đề tâm).

Đức Thầy đã vâng lịnh Đức Thích-Ca Như-Lai để truyền dạy bá tánh nhiều Pháp tu hành, trong đó có Pháp Nhẫn-Nhục để dùng làm phương-pháp đối trị cho tánh sân-nộ (nóng-giận), tham-lam, ... hầu giúp cho người tu thoát khỏi sự ưu-phiền, để cho thân tâm được an-lạc, như Đức Thầy đã dạy:

                “Làm dân bá nhẫn thị lương hiền,

                 Chữ nhẫn lời truyền Phật, Thánh, Tiên.

                 Gương trước Hớn, Tần, Hàn-Tín nhẫn,

                 Đã không khổ nhục khỏi ưu-phiền.”     (trang 482 SGTVTB 2004)

Hay là:

                “Sân-si phỏng có điều thêm bận,

                 Nhẫn-nhịn ắt không chuyện kéo dài.” (trang 406 SGTVTB 2004)

Khi nói đến nhẫn-nhục thì đa số chúng ta nghĩ rằng:  Nhẫn là phải nhục.  Nhưng, thật ra nhẫn có phải là nhục không?  Nếu nhẫn là nhục thì Phật bị nhục nhiều lắm, vì Ngài nhẫn hoài.  Song, vì Ngài là bậc trí-tuệ và từ-bi, có đủ mọi công-đức cao cả, người đời tán-dương công-hạnh ấy, nên gọi Ngài là Đấng Đại-Hùng Đại-Lực, vậy thì nhục chỗ nào?  Nhẫn-nhục là chữ Hán, dịch theo tiếng Việt là nhịn-chịu, chớ không phải nhẫn là nhục như chúng ta thường nghĩ.

Nhẫn-nhục là một đức-hạnh vô cùng quan-trọng, không chỉ dành cho người phát tâm tu hành mà cho tất cả mọi người.  Vì vậy, hôm nay chúng ta sẽ tìm-hiểu tại sao ta phải tu hạnh nhẫn-nhục?  Kế đến, thực-hành hạnh nhẫn-nhục như thế nào?  Và sau cùng, chúng ta sẽ nhắc lại một mẫu chuyện cổ tích về Đức Quan-Thế-Âm Bồ-Tát, có liên-quan đặc-biệt đến hạnh nhẫn-nhục và lòng từ-bi.

                                 I.     Tại sao chúng ta phải tu hạnh nhẫn-nhục?

Đức Phật nói cõi Ta-bà là cõi khổ, chúng-sanh sanh trong cõi Ta-bà phải có sức chịu đựng.  Ta-bà còn có nghĩa là kham-nhẫn; kham là có thể chịu được, nhẫn là nhịn chịu.  Nổi khổ ở cõi Ta-bà chúng-sanh có thể chịu nổi, chớ không phải không chịu được.  Chúng ta thử kiểm điểm lại, từ khi khôn lớn cho tới ngày nay, những điều xảy ra trong cuộc đời nầy có bao nhiêu điều như ý và bao nhiêu điều bất như ý đối với chúng ta?  - Đa số là bất như ý.  Như vậy, điều mình không bằng lòng mà nó cứ đến hoài thì làm sao vui được?  Điều mình muốn mà nó ít đến, nên cuộc đời khổ nhiều vui ít.  Khổ nhiều mà chịu nổi chính là do sức kham-nhẫn.  Có kham-nhẫn mới sống được trong cõi Ta-bà nầy.

Thông thường, người đời quan-niệm nhẫn là khi người ta nói làm trái tai gai mắt, mình phải trân mình, mím môi để nhịn.  Nhẫn theo cách nầy thì có giới-hạn, nhẫn lần thứ nhứt, rồi lần thứ hai, đến lần thứ ba thì không thể chịu nổi nữa, nên có nhiều người nói:  “Tôi nhịn đó nghe, tôi nhịn một lần, hai lần rồi, lần thứ ba thì không nhịn được nữa đó!”.  Do vì trân mình mím môi để nhịn nên nhẫn như vậy có giới-hạn.

Phật dạy chúng ta nhẫn không phải gồng mình chịu, mà nhẫn với cái nhìn bằng trí-tuệ, biết như thật, nên rất nhẹ-nhàng êm-ái.  Tại sao nhẫn-nhục mà êm nhẹ như vậy?  Phật dẫn dụ người mắng chửi, hãm hại người hiền, giống như kẻ ngậm nước bọt ngửa mặt phun lên trời xanh.  Nước bọt không tới trời mà rớt lại trên mặt người phun.  Ở trên, trời vẫn xanh không có chút bợn nhơ nước bọt, cũng như người hiền không thọ pháp ác nên vẫn an-vui không khổ.  Phật lại còn nói:  “Người dữ muốn hại người hiền giống như người đứng ngược gió ném bụi”.  Người đứng dưới gió ném bụi, gió đùa bụi lại phủ trên đầu người ném.  Người bị ném thì bụi không bay tới, nên không dơ không dính bụi.  Như vậy, người hiền bị người dữ hại vẫn bình thản không buồn, vì thấy việc làm ác của họ không có tác-động đến mình, chỉ gây hậu-quả không tốt cho họ mà thôi, nên không buồn.  Song, người đời thì không như vậy, nghe ai ở xa xa nói đến tên mình là đã nổi tức lên, giành cái khổ về mình rồi.  Đó là không biết tu nhẫn-nhục.  Nếu ta nghĩ kẻ dữ mắng chửi muốn hại mình, cũng như họ đang ngữa mặt lên trời xanh mà phun nước bọt thì lúc đó giận hay thương họ?  Thấy họ ngu-khờ tội-nghiệp, làm sao giận được!  Nhẫn như vậy đâu có bậm môi trân mình gắng-gượng chịu, mà lại quá nhẹ-nhàng!  Nhẫn được như vậy là nhờ trí-tuệ thấy được lẽ thật.

“Ông Nguyễn Văn Phẩm người quê-quán ở quận Cao-Lãnh, tỉnh Kiến-Phong (nay là tỉnh Đồng-Tháp) sớm nhận-xét đời là biển khổ, vạn-vật vô-thường nên rời gia-đình tìm đến Thiên-Cẩm sơn (núi Cấm) lo bề tu hành giải-thoát.  Một hôm, có lẽ nhờ duyên tao-ngộ, ông Phẩm được diện-kiến với Đức Thầy trong dịp Ngài hướng-dẫn năm người tín-đồ đăng sơn và cùng nghe được thời Pháp trong đêm hôm ấy.  Đức Thầy nói rất nhiều, nhưng ông Phẩm chỉ còn nhớ được một câu của Ngài khuyên:

-  Các ông tu hành nên trừ được tánh nóng-giận mới mong kết-quả.

Đoạn rồi Ngài đặt câu hỏi:

-  Nếu ai đem đến cho mình một món quà mà mình một mực khước từ thì họ phải làm sao?

Ai nấy không hiểu ý như thế nào, nên đều im lặng.  Ngài bèn nói tiếp:

-  Mình không nhận lãnh thì họ phải đem về. Cũng như thế đó, nếu có người dùng lời bất nhã, hoặc nặng nhẹ đối với mình mà mình nhịn được, lòng không chút sân-hận, tức bao nhiêu nghiệp-quả đó người dùng lời nặng nhẹ kia phải mang.” (theo quyển Chuyện Bên Thầy, trang 105-106)

Qua câu chuyện trên, Đức Thầy dạy cho ông Phẩm và chúng ta phải dùng trí-tuệ để thấy được lẽ thật, nhẫn như vậy thì rất nhẹ-nhàng êm-ái.

Như chúng ta biết, mong ước của người tu là chuyển cái dở thành cái hay, chuyển tật xấu thành tánh tốt.  Vì vậy, chúng ta nghĩ rằng tu cao rồi mọi việc xãy ra đều như ý hết.  Song, không phải như vậy!  Thực ra, không phải chỉ có người mới tu mới bị khảo-đảo, bị người nầy theo phá, người kia theo chọc, mà các vị tu càng cao thì khảo-đảo càng lắm; mới tu thì khảo-đảo ít, tu lâu thì khảo-đảo nhiều.  Nói như vậy, nghe hơi lạ, tại sao?  - Người tu giống như đứa học trò đi học vậy; học lớp 5 thì bài học bài thi dễ, học lớp 9 thì bài học và bài thi phải khó hơn.  Tới lớp 12 thì bài học và bài thi càng khó hơn nữa; học càng cao chừng nào thì bài học và bài thi càng khó chừng nấy.  Do đó, nếu mọi việc đều như ý hết thì đâu có cái gì để chuyển đổi, không chuyển đổi tức là không tu.  Thế nên, lâu lâu chúng ta tu có người đến chửi, coi có còn giận không.  Nếu còn giận thì tự thấy mình còn dở, phải nổ lực tu hơn nữa để điều-phục bịnh sân-giận của mình.  Còn nếu ai gặp mình cũng xá cũng trọng hết thì đâu có gì để sửa, mà không sửa tức là không tu.  Như vậy, chúng ta tu mà có cơ-hội thử-thách thì sức tu của mình mới mạnh.  Cho nên nói tu là nói đến nhẫn-nhục.  Tu là phải có sức chịu-đựng, kham-nhẫn để chuyển-hóa mình và chuyển-hóa người.  Ngược lại, nếu người tu không nhẫn-nhục được, để sa-ngã theo lòng tham-lam, nóng giận, ... thì bao nhiêu công-đức tu tập đều tan-nát hết cả, đó cũng giống như “đốn củi ba năm, chỉ thiêu hủy một giờ”.

                             II.     Thực-hành hạnh nhẫn-nhục như thế nào?

Theo như Đức Thầy giải thích, có tám điều nhẫn, còn gọi là Bát Nhẫn (1), mà người tu phải thực hành, đó là:  Nhẫn-Năng-Xử-Thế, Nhẫn-Giái, Nhẫn-Hương-Lân, Nhẫn-Phụ-Mẫu, Nhẫn-Tâm, Nhẫn-Tánh, Nhẫn-Đức, Nhẫn-Thành.  Tám điều nhẫn nầy có thể được chia làm hai trường hợp:  Nhẫn đối với chúng-sanh, và nhẫn với chính mình.

1.   Nhẫn đối với chúng-sanh

Nhẫn đối với chúng-sanh bao gồm:  Nhẫn-Năng-Xử-Thế, Nhẫn-Hương-Lân, Nhẫn-Phụ-Mẫu.

a)  Nhẫn-Năng-Xử-Thế:  Đức nhẫn thường hay chịu nhịn nhục, hầu đối xử với đời và nhẫn đợi thời cơ để làm nên danh phận của bực hiền nhơn.  Đức Thầy đã dạy:

                Chữ thứ nhứt Nhẫn-Năng-Xử-Thế,

                 Là người hiền khó kiếm trong đời.

                 Lập thân danh từng (2) trải nơi nơi,

                 Chờ thời-đại mới là khôn khéo.”       (trang 139 SGTVTB 2004)

Trước nhất, là mặt xử thế tiếp vật, Đức Thầy khuyên chúng ta phải biết nhẫn-nhịn để đem lại sự hòa khí cùng mọi người, mọi giới trong xã-hội. Trên bước đường lập thân hành Đạo, ta cần phải biết tùy thời, thích ứng mà xử sự:

                Đấng nam-nhi ẩn-nhẫn tùy thời,

                 Vậy mới gọi khôn-ngoan hữu chí.    (trang 136 SGTVTB 2004)

Nếu gặp trường hợp bị kẻ khác dùng uy-lực chèn-ép, đánh đập hay mắng nhiếc thì ta cũng nên nhẫn-nhục, vì xét rằng sự trạng đó là do mối “oan-oan tương báo” từ trước, giờ đây ta nên đoạn dứt, không nên gây nối thêm, bởi vì  “Dĩ oán báo oán thì oán kết thêm mãi”, “Dĩ đức báo oán,  oán tự tiêu tan”, như Đức Thầy đã hằng khuyên:

                “Ai chưởi mắng thì ta giả điếc,

                 Đợi cho người hết giận ta khuyên.

                 Chữ nhẫn-hòa ta để đầu tiên,

                 Thì đâu có mang câu thù-oán.

                 Việc hung-ác hễ vừa thấp-thoáng,

                 Chữ từ-bi ta diệt nó liền.

                 Sự oán-thù đáp lại chữ hiền,

                 Thì thù-oán tiêu-tan mất hết.”            (trang 133 SGTVTB 2004)

         Hay là:

                “Rán nhẫn trăm phần dầu khó nhẫn,

                 Dạ thưa quan chức phận làm dân.”      (trang 482 SGTVTB 2004)

Về cách xử thế, Đức Phật dạy rằng:  “Người tranh giành để phần mình được hơn thì bị kẻ thua oán-hận, âm-mưu ám-hại, sẽ khổ.  Còn người cảm thấy bị lấn-hiếp, bị thua phải ráng nhịn-nhục, cho qua hồi nhiễu-nhương thì lòng tức-tối, bất an không ngủ được, cũng khổ.  Cho nên cả hai ý-niệm hơn thua đều phải buông-xả hết thì mình mới được an-ổn thoải-mái mà ngủ nghỉ”.  Chúng ta nhận thấy người giành hơn và kẻ thấy mình thua, cả hai đều chuốc khổ.  Thế nên, phải sáng-suốt nhìn cho thấu cái chơn-lý của mọi sự việc đến hay đi, mà buông-xả bỏ qua, không buồn không giận.

b)  Nhẫn-Hương-Lân:  Nhẫn-nhịn đối với mọi người chung quanh để giữ được hòa khí trong thôn xóm.  Đức Thầy dạy rằng:

                Nhẫn-Hương-Lân cùng khắp đâu đâu,

                 Trên cùng dưới đều hòa ý hỉ.”             (trang 139 SGTVTB 2004)

Trong việc giao-tiếp với thôn-xóm, chúng ta phải dùng sự dung-hòa đối xử với mọi người, gặp người lâm nạn phải hết lòng giúp-đỡ, khiến ai nấy đều được an-vui, chẳng còn muốn gây-thù kết-oán với nhau nữa:

                    “Xóm diềng phải ở thật-thà,

             Dầu không quen biết cũng là như quen.

                     Ở cho cha mẹ ngợi khen,

             Gặp người lâm nạn đua chen giúp dùm.” (trang 97 SGTVTB 2004)

Luôn luôn biết kính nhường, lễ-độ với xóm-chòm, cô bác, các bậc cao niên, như Đức Thầy đã dạy:

                Nhịn xóm-chòm cô bác mới cao,”        (trang 139 SGTVTB 2004)

        Và:

                Nhịn tất cả những người tuổi tác,”      (trang 139 SGTVTB 2004)

c)   Nhẫn Phụ-Mẫu (3):  Đức nhẫn để trọn lòng hiếu kính đối với cha mẹ.  Đức Thầy đã dạy:

                Nhẫn-Phụ-Mẫu gọi trang hiền sĩ,

                 Phận xướng-tùy chồng vợ nhịn nhau.” (trang 139 SGTVTB 2004)

Phần trong gia-đình, đối với cha mẹ, phận làm con phải hết lòng tôn-kính bảo-dưỡng.  Đôi khi có bị rầy la, xử ép cũng phải nhịn-chịu để cho cha mẹ được vui lòng.  Đối với tình nghĩa vợ chồng, anh em, những người trong thân tộc, cần phải nhường-nhịn lẫn nhau hầu đem lại sự hòa vui hạnh-phúc:

                “Đạo cha con chặt-chẽ chữ miên trường,

                  Đạo chồng vợ thuận-hòa cho đến thác.

                 Biết lễ nghĩa kính yêu cùng cô bác,

                 Nội tông cùng ngoại tổ với cậu dì.

                 Thêm kính nhường anh chị kẻ cố tri,…”    (trang 391 SGTVTB 2004)

2.   Nhẫn đối với chính mình

Nhẫn đối với chính mình bao gồm:  Nhẫn-Giái, Nhẫn-Tâm, Nhẫn-Tánh, Nhẫn-Đức, Nhẫn-Thành.

a)  Nhẫn-Giái:  Đức kiên-nhẫn mọi sự khó-khăn để giữ tròn giới-luật.  Đức Thầy dạy rằng:

                “Chữ Nhẫn-Giái trì tâm trong trẻo,

                 Khuyên dương-trần giữ phận làm đầu.” (trang 139 SGTVTB 2004)

Đối với người phát tâm tu hành là phải biết gìn-giữ giới-luật của Đạo.  Vì vậy, đã là tín-đồ PGHH thì chúng ta phải biết gìn-giữ Tám Điều Răn Cấm (Lời Khuyên Bổn Đạo), chẳng hạn như không nên uống rượu, cờ bạc, á-phiện, chẳng nên ăn thịt trâu, chó, bò và không nên sát-sanh hại vật, ...  Đó là chúng ta phải nhẫn-giái (giới) để thật sự trở thành người tín-đồ thuần-thành.  Dĩ nhiên, sự nghiêm trì giới-luật đôi khi gặp phải nhiều khó-khăn, nhưng với lòng kiên-nhẫn sẽ giúp chúng ta vượt qua các chướng-ngại để gìn-giữ thân tâm sớm được trọn lành trọn sáng.  Đó cũng chính là bổn-phận căn-bản của người tu hành:

                “Gìn giới cấm sửa tâm ô-tạp,

                  Niệm Phật thì phải dẹp lòng tà.”          (trang 141 SGTVTB 2004)

Hay là:

                “Chi cho bằng ta sớm lo toan,

                 Gìn giới-luật nghe Kinh trọng Phật.”  (trang 160 SGTVTB 2004)

b)  Nhẫn-Tâm:  Đức nhẫn để diệt hết lòng dục-vọng tham-lam, để tâm được thanh-tịnh an-vui.  Đức Thầy dạy rằng:  Nhẫn-Tâm nọ ngày ngày an-lạc.”  (trang 139 SGTVTB 2004).

Đối với người biết tu, điều-kiện thiết-yếu là phải nhịn-chịu sự đòi-hỏi quá đáng ở nội tâm mình, đó là tham dục.  Tham dục có nhiều thứ là tham tiền của, tham sắc đẹp, tham danh vọng, tham ăn ngon, tham ngủ kỹ, ...  Nếu thỏa-mãn những thứ đó thì con người nên hay hư?  Chắc-chắn là hư!  Thế nên, phải nhịn bớt.  Chẳng hạn như tham ngủ, đối với một thanh-niên, trung-bình ngủ bảy tiếng đồng hồ là đủ, vừa có thì giờ làm việc, hoạt-động cho cơ-thể khỏe mạnh, vừa có thì giờ học hành cho tinh-thần sáng-suốt minh-mẫn.  Nếu ngủ một ngày mười hoặc mười hai tiếng đồng hồ thì thân-thể béo-phệ nặng-nề, tinh-thần uể-oải mê-mệt, sống một đời bê-tha gàn-dở.  Vì vậy mà phải hạn-chế, không cho ngủ như ý thích là đã bắt mình phải nhịn-chịu để giảm bớt lòng tham ngủ.  Rồi đến tham tài, tham sắc, tham danh, tham ăn ngon, ... đều phải hạn chế, không cho thỏa-mãn đúng mức.  Như vậy, đối với ngũ-dục trong thế-gian nầy, chúng ta phải có sức kham-nhẫn để hạn-chế, nhịn-chịu lòng tham của nội tâm mình.  Tiết-chế đó là tu nhẫn-nhục.

c)   Nhẫn-Tánh:  Đức nhẫn nhịn để thay đổi tánh ý sân si, hung-ác của bản thân, hầu được trở lại tánh hiền-lành giác-ngộ của Phật Thánh.  Đức Thầy đã dạy:

                Nhẫn-Tánh lành yên-tịnh dài lâu.

                 Giữ một lòng hiền-hậu mới mầu,

                 Quanh năm cũng bảo toàn thân-thể.”  (trang 139 SGTVTB 2004)

Nhẫn không phải chỉ nhẫn-nhịn khi bị người chửi-mắng lấn-hiếp, mà chúng ta phải nhẫn-nhịn với bản thân mình:  Lòng tham quá trớn cũng phải hạn-chế; nóng-giận quá đáng cũng phải điều-phục; thân nhọc-nhằn nóng-bức, đói rét cũng phải kham chịu.  Đó là nhẫn ở tâm mình, tánh mình, và nhẫn ở thân mình.

d)  Nhẫn-Đức:  Đức nhẫn rèn luyện cho mình có những đức độ: hiền hòa, từ bi cao cả, bình-đẳng, không vị ngã tham-lam, không câu-chấp thiên-lệch, và khi có được các hạnh-đức ấy, lòng chẳng hề tự-mãn hoặc khoe-khoang đắc-ý.  Đức là Đạo cả, như Đức Thầy đã dạy:

                “Kín nhẹm lòng nhơn ấy mới mầu,

                 Đức là Đạo cả chớ nơi đâu?

                 Duyên lành sẵn có ơn Trên hóa,

                 Bồi-đắp nền nhơn đức lại sâu.”            (trang 516 SGTVTB 2004)

Vì vậy, muốn cho sự tu hành được kết-quả như-ý thì ta phải lo tu bồi lòng nhơn, làm cho công-đức lành luôn luôn tăng-trưởng, làm cho muôn loài vạn-vật đều được gội-nhuần ơn-huệ.  Đó là chứng-đạt cái chơn-lý thâm-huyền của đạo-đức.  Để làm được như vậy, chúng ta phải nhẫn-đức,  Đức Thầy dạy rằng:

                “Chữ Nhẫn-Đức kể ra luôn thể,

                 Thì trong đời vạn sự bình an.”             (trang 139 SGTVTB 2004)

Đức Thầy dạy người tu nên kiên nhẫn để rèn luyện các đức độ:  Từ-bi, bác-ái, dĩ đức háo sanh, khoan-hồng đại độ (trang 489 SGTVTB 2004) để đối với quần sanh và vạn loại.   Nhờ đó, hành giả thể hiện được tình hòa-hảo với mọi người chung quanh hầu cảm-hóa họ hướng về nẻo Đạo, còn hành giả thì sớm đạt đến giác-hạnh viên-mãn.

e)  Nhẫn-Thành:  Đức nhẫn do quyết tâm thực hành Pháp Bát-Nhẫn, chịu mọi sự khó khổ, đắng cay không sờn lòng nản chí, để đạo quả sớm được viên thành, và thẳng tiến đến cứu-cánh giải-thoát.  Đức Thầy dạy rằng:

                “Chữ Nhẫn-Thành báu-quí hiển-vang,

                 Khắp bá-tánh được câu hòa-nhã.”       (trang 139 SGTVTB 2004)

Trên bước đường tiến hóa của người tu, dĩ nhiên phải gặp chông gai nguy-hiểm.  Với lòng nhẫn-nhục, người tu sẽ lướt qua tất cả các chướng ngại, và chính nó giúp cho hành giả tu tiến đến chỗ thành tựu.  Đó chính là kết-quả tốt đẹp nhất cho người tu, và chúng-sanh nhờ đó mà được sống trong an-lạc, hạnh-phúc.

Tuy nhiên, nhẫn-nhục không có nghĩa là ai làm sao cũng được, ai bảo gì cũng nghe.  Chính bản-chất của nó là khéo tùy thuận người, để hướng-dẫn họ theo đường-lối hay lập-trường của mình.  Tùy thuận mà không bị người chi-phối, ngược lại, còn chi-phối được người.  Người nhẫn-nhục mới trông qua thấy rất yếu-hèn, nhưng kỳ thật, họ có sức-mạnh phi-thường, đã tự chiến-thắng được tình-cảm và phản-ứng của bản-năng.  Họ đã vượt ra ngoài phạm-trù của con người phàm-tục, nếu lấy con mắt phàm-tục nhìn họ thì không thể nào hiểu nổi.  Người chửi ta giận, người đánh ta đỡ, đó là bản-năng tự-vệ của tất cả mọi người.  Song, bị chửi mà không giận, bị đánh mà không đỡ, ấy mới là việc khó làm, nếu không phải là bậc Thánh-giả thì khó có thể làm được.  Hằng ngày, chúng ta sống theo tình-cảm, theo bản-năng, thấy những phản-ứng như vậy cho là phải lẽ, hợp lý.  Nếu thấy người bị chửi mà không giận, chúng ta đâm ra bực-bội, khi-dễ họ, cho là kẻ hèn-nhác; đâu ngờ, những kẻ ấy đã đứng trên đỉnh chúng ta, mà chúng ta ở dưới vẫn tự cao tự đại.

                          III.     Hạnh Nhẫn-Nhục của Đức Quan-Thế-Âm Bồ-Tát

Để làm sáng tỏ thêm ý nghĩa nhẫn-nhục, chúng tôi xin nhắc lại câu chuyện cổ tích có liên quan đến Đức Quan-Thế-Âm Bồ-Tát.  Câu chuyện rất được nhiều người biết đến là Quan-Âm Thị-Kính.

Thị-Kính là người đàn bà có chồng, một hôm chồng đang ngủ, nàng thấy có sợ râu mọc ngược nên lấy kéo cắt bỏ.  Chẳng may bị chồng và gia-đình chồng hiểu lầm, cho nàng có ý ám-sát chồng, nên nàng bị trả về cha mẹ đẻ.  Lễ giáo ngày xưa rất nghiêm-khắc, người con gái ở trong gia-đình đàng-hoàng khi có chồng, mà bị đuổi về là một sự nhục-nhã lớn cho gia-đình.  Thị-Kính đang cam chịu cái nhục nầy.  Nếu là hạng nhi nữ thường tình, không chịu nổi thì hủy mình tự-tử.  Thị-Kính không làm việc đó, phải giả trai vô chùa tu vì thời đó không có chùa Ni mà chỉ có chùa Tăng.  Đó là bước nhẫn-nhục thứ nhất!

Vốn dĩ người có nhiều vẻ đẹp, nên khi xuất gia ở chùa Thị-Kính bị các cô để ý.  Thị-Mầu là một trong những cô ấy, nàng lại là đứa con gái không đoan-chính, thiếu đạo-đức.  Nàng thương Thị-Kính, nhưng không được Thị-Kính đáp lại, nên sanh lòng oán-hận, bèn lan-chạ với kẻ thất-phu có thai, rồi cáo gian cho Thị-Kính là tác-giả của bào thai.  Thị-Kính bị trị tội đánh đập.  Khi bị hành-hình nhục-nhã, tại sao Thị-Kính không minh-oan rằng:  Tôi là người nữ giả trai đi tu, mà cứ làm thinh chịu?  Bấy giờ không có chùa Ni mà chỉ có chùa Tăng, nên Thị-Kính phải giả trai để được ở chùa.  Nếu khai mình là người nữ thì được tha tội, nhưng về chùa thì không được chấp nhận cho ở tu chung với Tăng.  Trường hợp thứ hai, Thị-Kính nhẫn-nhục để được tu, dù với giá nào cũng phải chịu.  Trước Thị-Kính cam chịu nhục-nhã ở đời để tu.  Bây giờ cam chịu mọi hình phạt đau-đớn nhục-nhã, chờ thả ra để được về chùa, vì sự tu mà nhẫn như vậy.  Hai cái nhẫn nầy dễ làm hay khó?  Nếu là chúng ta chắc có chịu nổi không?

Nhưng tới lần thứ ba thì tuyệt đỉnh.  Sau khi bị đánh đập, tai tiếng không tốt, Thị-Kính đã bị nhà chùa nghi không cho ở trong chùa mà cho ở ngoài hiên.  Bấy giờ Thị-Mầu sanh con đem bỏ trước hiên chùa.  Nếu không có quan-hệ máu mủ tình cảm, thì đứa bé khóc mặc nó, nó có ra sao cũng mặc nó, nào có liên-hệ gì với mình!  Thế mà khi thấy đứa bé vô tội bị bỏ-hoang, khóc oe-oe, Thị-Kính liền ôm vào nuôi-dưỡng.  Bây giờ, muốn trắng án, chỉ cần không nhận, không nhìn đứa bé là giải-oan rồi.  Song, thấy đứa bé bị bỏ-hoang, nóng ruột ôm nuôi, như vậy ai tin Thị-Kính trong sạch?  Chính Hòa-Thượng cũng đâm ra nghi-ngờ.  Tại sao Thị-Kính làm như thế?  Vì lòng từ-bi!  Thà cứu một mạng sống mà mình bị khổ, hơn là ngồi yên để mặc cho người đau-khổ.  Nuôi đứa bé không dễ-dàng.  Đã bị dư-luận không tốt, lại còn không phương-tiện nuôi-dưỡng:  không tiền, không sữa, không thức ăn, ... phải vào xóm làng để xin.  Đi tới đâu cũng bị kinh-thường phỉ-báng.  Thế mà Thị-Kính cứ mặc-nhiên, ai chửi thì chửi, ai khinh thì khinh, việc nên làm vẫn cứ làm, ngày ngày vẫn đi xin sữa để nuôi trẻ, mấy năm trời đứa bé mới lớn.  Nhẫn như thế là tột độ rồi!  Chúng ta bị mắng một câu là ngủ không được, còn Thị-Kính ngày nào cũng bị miệt-khinh, cũng bị mắng-chửi mà vẫn cứ an-nhiên làm.  Công-đức ấy cỡ nào, lòng từ-bi bao lớn, đức nhẫn-nhục có thiếu không?  Do đức nhẫn-nhục cao tuyệt, nên lòng từ-bi mới viên-mãn.  Nhẫn-nhục và từ-bi viên-mãn thì quả Phật hiện kề.  Thực-hiện lòng từ-bi là phải cam chịu cái khổ, cái xấu nhục, ... mà không sờn lòng nản-chí, biết điều đó là thiện, cứu giúp cho chúng-sanh hết khổ thì cứ làm, mặc người đời không biết cứ khen-chê mắng-chửi.  Được như vậy thì công-hạnh mới viên-mãn, đạo quả mới thành-tựu.  Chúng ta thấy Thị-Kính từ cái nhẫn-nhục ban-sơ, là thay vì khổ nhục quyên-sinh thì trốn đi tu.  Lần thứ hai, thay vì minh-oan để được trắng án thì chịu nhục, chịu đòn để được tu.  Lần thứ ba, không vì danh-dự, không vì sự sống cho mình, mà sống vì người khác, đó là cứu mạng chúng-sanh.  Đến khi Thị-Kính viên tịch, người ta mới biết Thị-Kính là gái giả trai để đi tu.  Vì hạnh nhẫn-nhục và lòng từ-bi viên-mãn nên đạo quả thành-tựu.  Bấy giờ, Thị-Kính được tôn xưng là Bồ-Tát Quan-Thế-Âm!

Qua câu chuyện Quan-Âm Thị-Kính, chúng ta thấy việc tu hành rất cụ thể, muốn thể hiện lòng từ-bi là phải thực-hiện trọn vẹn hạnh nhẫn-nhục.  Nếu thiếu nhẫn-nhục thì lòng từ-bi khó viên-mãn và đạo-quả cũng khó thành-tựu.

Tóm lại, muốn viên-mãn đạo-quả chúng ta phải kham-nhẫn mọi sự khó khổ, đắng cay không sờn-lòng nản-chí, thì lòng từ-bi mới thể hiện tròn đủ, đạo-quả mới viên-thành.  Có nhẫn-nhục ta mới thành người tu chân chánh.  Nếu không nhẫn-nhục, người ta nói một câu nặng một, đáp lại một câu nặng gấp hai, như vậy không phải là người tu.  Đáp lại bằng đã không có tu rồi, huống nữa là hơn.  Vì vậy, tu là phải nhẫn.  Nhẫn không có nghĩa gồng mình chịu, mà dùng trí-tuệ để thấy đúng lẽ thật, buông-xả mọi hơn thua phải quấy với người, không cố-chấp phiền-hận.  Nếu bị chửi một câu mà nhớ hoài không quên, rồi sanh sân-si phiền-não thù-hằn, tự mình chuốc-khổ và làm người khác khổ lây, đó là không nhẫn, không tu.  Nhẫn không phải chỉ nhịn-chịu sự mắng chửi, đối xử tệ-bạc của người đời, mà nhẫn ở đây là nhịn-chịu mọi trường hợp.  Người chửi mình, mình không nhận, đó là xả-bỏ.  Vậy, tất cả người phát tâm tu hành đều phải thực-hành hạnh nhẫn-nhục để chuyển-hóa mình và chuyển-hóa người.

Nam-Mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật

Nam-Mô A-Di-Đà Phật

 

Nguyễn-Trung-Hiếu

Sách Tham Khảo:

1.   SẤM GIẢNG THI VĂN TOÀN BỘ (SGTVTB 2004) của Đức Huỳnh Giáo Chủ, Ban Trị-Sự Trung-Ương Hải-Ngoại, Giáo Hội PGHH, ấn bản năm 2004 tại Hải Ngoại.

2.   Chú Nghĩa Pháp Môn HỌC PHẬT TU NHÂN của Thanh Sĩ và Vương Kim, ấn bản năm 2000 tại Hoa Kỳ.

3.   ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ của Vương Kim, ấn bản năm 1974 tại Việt-Nam, tái bản năm 2009 tại Hoa Kỳ.

4.   Chú Giải SẤM GIẢNG THI VĂN TOÀN BỘ của Thiện Tâm (Lưu hành nội bộ).

5.   TỪ ĐIỂN ĐẶC DỤNG của Nguyễn Văn Chơn (Lưu hành nội bộ).

6.   CHUYỆN BÊN THẦY, do Thanh-Niên Phật-Giáo Hòa-Hảo sưu tập, ấn bản năm 2005 tại Hải Ngoại.

Chú Thích:

(1)  Bát Nhẫn ( )

Tám điều nhẫn nầy, khởi nguyên từ Đức Phật-Thầy Tây-An (1807-1856), Ngài viết ra trong một bài thi Thất ngôn Bát cú (Đường luật) bằng Hán văn để cho ông Đạo Thắng, một đệ tử của Ngài gìn-giữ và truyền lại cho con cháu. Đồng thời, Đức Phật-Thầy cũng mật ký thêm cho ông Đạo Thắng một bài thi khoán thủ cách cú “Đạt Đạo Ngao Du Châu Di Viễn Cận” ( ).  Ngài còn dặn rằng:  Nếu sau nầy có ai viết được bài thi đúng y văn tự như vầy, đó là Ngài chuyển kiếp trở lại.  Ông Đạo Thắng giữ kín bài thi ấy mãi, đến khi sắp từ trần mới truyền lại cho con ông, rồi con ông truyền lại cho cháu nội là ông Nguyễn Phước Còn ở xã Long-Kiến, quận Chợ Mới, tỉnh An-Giang. Bài thi ấy coi như là vật gia bảo, ngoài ba người ấy, không hề có một ai được biết tới.

Đến năm 1939, khi Đức Huỳnh Giáo-Chủ khai sáng Đạo PGHH tại làng Hòa-Hảo, quận Tân-Châu, tỉnh Châu-Đốc (nay là tỉnh An-Giang).  Một hôm, ông Còn nằm mộng được chư Thần kêu cho biết:  “Đức Phật Thầy đã tái sanh tại làng Hòa-Hảo, con của ông Cả Bộ rồi!”.  Kêu hai lần như vậy, ông Bảy Còn cũng chưa tin, đến lần thứ ba ông mới chịu ra đi.

Đến nơi, vừa giáp mặt với Đức Thầy, Ngài liền ngó ngay ông Bảy Còn, nói:

           -  Dữ hôn!  Đợi chư Thần đòi ba lần ông mới chịu đi à?  Thôi, mời ông vào nhà!

Nghe thế, ông Còn rất kinh ngạc nhưng cũng chưa tin thật.  Đức Thầy liền bước lại bàn, viết hai bài thi bằng Hán văn nói trên đưa ra, ông Bảy Còn mới chịu nhìn nhận và bái phục.

Dưới đây là y văn bài thi Bát Nhẫn của Đức Thầy viết ra (dịch lại chữ Việt):

              Bát Nhẫn ( )

                Nhẫn năng xử thế thị nhơn hiền,

              Nhẫn giái kỳ tâm thận thủ tiên.

                 Nhẫn giả hương-lân hòa ý hỉ,

                 Nhẫn hòa phu-phụ thuận tình-duyên.

                 Nhẫn tâm nhựt nhựt thường an-lạc,      

                 Nhẫn tánh niên niên đắc bảo truyền (tuyền).

                 Nhẫn đức bình-an tiêu vạn sự,

                 Nhẫn thành phú-quới vĩnh miên miên. (trang 251 SGTVTB 2004)

Đại ý của bài Hán thi nầy là khuyên người tu hành phải phát huy khả-năng chịu đựng, giữ-gìn những điều răn cấm.  Sống hài-hòa với những người lân-cận, chồng vợ hòa-thuận thủy-chung.  Ngày ngày an-lạc thân tâm, năm năm hạnh nết thuần-khiết.  Có được như thế thì mọi việc sẽ thành-đạt, sống trong cảnh giàu sang hạnh-phúc.

Dựa vào nội dung bài Bát Nhẫn trên, ông Nguyễn Văn Chơn đã lược dịch thành bài thơ chữ Việt như sau:

                “Đem hết khả năng để đối nhân,

                 Giới răn trước hết giữ gìn thân.

                 Xóm chòm hòa thuận cùng trên dưới,

                 Chồng vợ thủy chung chẳng rẽ phân.

                 Tâm giữ ngày ngày an lạc Đạo,

                 Tánh luôn năm lẫn phúc chuyên cần.

                 Đức lành vạn sự đều an ổn,

                 Thành đạt giàu sang hưởng trọn phần.”

(Trích từ quyển Từ Điển Đặc Dụng, Quyển Trung, phần II của Nguyễn Văn Chơn biên soạn).

Còn bài thơ khoán thủ cách cú Đạt Đạo Ngao Du Châu Di Viễn Cận mà Đức Phật-Thầy Tây-An đã mật truyền cho Ông Đạo Thắng (ông Nội của ông Nguyễn Phước Còn) như sau:

Đạt Đạo Ngao Du Châu Di Viễn Cận ( )

                   Đạt Đạo hoằng khai kế nghiệp truyền,

                 Chư bang hành thiện hiếu vi tiên.

                 Ngao Du thế-giới hoàn sanh chúng,

                 Quí tiện trí ngu trạch nhơn hiền.

                 Châu Di phục thỉ an bá-tánh,

                 Thượng-cổ hoàn ư thế tự-nhiên.

                 Viễn Cận chư châu qui nhứt thống,

                 An-cư lạc-nghiệp phước vô-biên.”    (trang 56, Đức HUỲNH GIÁO CHỦ, Vương Kim)

(Xem thêm quyển “Đức HUỲNH GIÁO CHỦ” của Vương Kim có kể rõ câu chuyện và hai bài thi bằng Hán văn và Việt văn, trang 54 – 58).

(2)  Từng trải hay tuần trải?

Trong Việt văn, chúng ta thường nghe nói:  tuần hoàn, tuần tự, tuần tra, tuần hành, ...  nhưng là:  từng đi học, từng đi bơi, từng đi Sài-Gòn, từng trải, ...  nghĩa là có kinh-nghiệm về việc gì đó.  Do đó, trong quyển tư Giác Mê Tâm Kệ có câu:

                “Lập thân danh tuần trải nơi nơi,

                 Chờ thời-đại mới là khôn khéo.”          (trang 139 SGTVTB 2004)

Đúng ra là:

                “Lập thân danh từng trải nơi nơi,

      Chờ thời-đại mới là khôn khéo.”

Như vậy là đúng theo ý-nghĩa.  Có lẽ, đây là do lỗi kỹ-thuật ấn-loát.  Nhờ các bậc cao minh vui lòng chỉ giáo.  Xin đa tạ!

(3)  Nhẫn-Phụ-Mẫu hay Nhẫn-Phu-Phụ?

Nguyên tác từ bài thi Bát Nhẫn được Đức Thầy viết ra như sau:

                    Nhẫn hòa phu-phụ thuận tình-duyên.”  (trang 251 SGTVTB 2004)

Tuy nhiên, trong quyển tư Giác Mê Tâm Kệ, Đức Thầy cũng có câu giải-thích:

              Nhẫn-Phụ-Mẫu gọi trang hiền sĩ,

                 Phận xướng-tùy chồng vợ nhịn nhau.”    (trang 139 SGTVTB 2004)

Phải chăng do lỗi kỹ-thuật ấn-loát, Nhẫn-Phụ-Mẫuđúng ra là Nhẫn-Phu-Phụtheo như nguyên tác của bài thi Bát Nhẫn?  Nghĩa là:

              Nhẫn-Phu-Phụ gọi trang hiền sĩ,

      Phận xướng-tùy chồng vợ nhịn nhau.”

Câu dưới bổ-sung, giải-thích cho câu trên, và phù hợp với ý-nghĩa của câu:  Nhẫn hòa phu-phụ thuận tình-duyên.”  Nhờ các bậc cao minh vui lòng chỉ giáo.  Xin đa tạ!
 
Comments