2009/08/30 - Ý-Nghĩa Lễ Vu-Lan và Chữ HIẾU trong Giáo-Lý Phật-Giáo Hòa-Hảo

Ý-Nghĩa Lễ Vu-Lan và Chữ HIẾU trong Giáo-Lý Phật-Giáo Hòa-Hảo

 

        Hằng năm, cứ đến ngày rằm tháng bảy âm lịch là các chùa chiền đều tổ-chức Lễ Vu-Lan để đồng-bào Phật-tử đến cúng dường, cầu-nguyện cho vong-linh ông bà, cha mẹ quá-vãng được siêu-thoát, còn các bậc hiện tiền được sống lâu, phước thọ.  Lễ Vu-Lan còn được gọi là Vu-Lan bồn, là một lễ lớn của Phật-Giáo.  Phật-Giáo Hòa-Hảo (PGHH) cũng phát-xuất từ Đạo Phật như Đức Thầy đã từng minh-xác:  “Đối với toàn thể tín-đồ Phật-Giáo, tôi vẫn không quên rằng tôi là một đệ-tử trung-thành của Đức Phật Thích-Ca, …” (trang 544 SGTVTB 2004), hay là:

                           “Ta là kẻ vô hình hữu ảnh,

                             Ẩn xác phàm gìn đạo Thích-Ca.” (trang 84 SGTVTB 2004)

        Thế nên, PGHH cũng tổ-chức lễ nầy mỗi năm.  Vì vậy, trước hết chúng ta tìm-hiểu nguồn-gốc và ý-nghĩa Lễ Vu-Lan, và sau đó, ý-nghĩa chữ HIẾU trong Giáo-Lý Phật-Giáo Hòa-Hảo.

I.   Ý-nghĩa Lễ Vu-Lan

        Trước tiên, chúng ta thử tìm hiểu lễ hội Vu-Lan bồn là gì?  Đó là một pháp-hội cứu khổ cho cha mẹ quá vãng được thoát ra cái nạn treo ngược ở âm cảnh.  Vu-Lan phát xuất từ tiếng Phạn Ulambana có nghĩa là giải cứu cái nạn treo ngược vì hồn người thác ở âm cảnh thấy mình bị treo ngược.  Bồn là cái chậu.  Hằng năm, vào ngày rằm tháng bảy âm lịch, người ta để trăm món thức ăn, hoa quả vào cái chậu để cúng dường các chư Tăng, Đại-Đức, Tỳ-Kheo vừa ra khỏi những ngày kiết-hạ (mùa an-cư tự-tứ) để các Ngài nhơn danh Tam-bảo tụng kinh, cầu-nguyện cho các vong hồn khỏi bị đọa ở cảnh địa-ngục, ngạ-quỷ, đồng thời thí-thực cho những người nghèo khổ.  Chính vì thế, theo Phật-giáo, Vu-Lan bồn cũng còn được gọi là hoan-hỉ nhật hay hoan-hỉ hội.  Nhưng tại sao ngày Vu-Lan cũng còn được gọi là ngày báo hiếu?

        Theo sách sử Phật-giáo, ngày xưa bên Ấn-Độ có một người đàn bà tên là Thanh-Đề, một người rất hung-ác, bất nhân, không biết thương yêu kẻ khốn cùng.  Bà không có lòng từ-bi, không hề bố-thí cho kẻ khó mà bà còn xua đuổi khi họ đến gõ cửa xin cứu giúp.  Chẳng những không có tâm tu-hành, không biết “gìn giới luật, nghe kinh, trọng Phật”, bà còn trêu ghẹo các ni-sư, tìm mọi cách để quấy-phá sự thanh-tịnh tu-hành của các vị nầy.  Quá-quắt hơn nữa, bà còn bạo gan trộn thức ăn mặn vào cơm rồi đem lên chùa cúng-dường để các vị sư không biết mà ăn nhầm.  Bà lại dám phỉ-báng, khinh-miệt cả Trời, Phật, Thánh, Thần nữa.

        Con trai của bà là Mục-Kiền-Liên, một vị cao-tăng, đã hết lời khuyên giải bà nên làm lành lánh dữ, bố-thí cho kẻ nghèo khổ cơ-hàn để tạo duyên lành cho kiếp sau, nhưng bà chẳng nghe.  Đến khi chết, bà bị đọa ở cảnh địa-ngục, ngạ-quỷ để thọ lãnh những hình-phạt về những tội đã làm lúc sống trên dương-thế.  Nào là bà phải ngồi trên bàn chông đau-đớn, bị cảnh treo ngược, lại đói khát vì mỗi khi đưa thức ăn vào miệng đều biến thành máu hay bốc cháy thành lửa đỏ.

        Tôn-giả Mục-Kiền-Liên sau khi chứng quả A-La-Hán, Ngài có đủ lục thông.  Song đối với những vị chứng quả A-La-Hán như Ngài, Ngài là người ưu-việt hơn cả.  Nên khi Đức Phật còn tại thế, Phật nói Tôn-giả Mục-Kiền-Liên thần thông đệ nhất trong hàng đệ tử lớn của Phật.  Vì thần thông siêu-việt, nên Tôn-giả có thể dùng thần thông đi từ thế-giới nầy đến thế-giới nọ trong chớp mắt, hoặc dùng thần thông hóa hiện tùy ý.  Với sức thần thông siêu-việt như thế, vì lòng hiếu-thảo, Ngài dùng thiên-nhãn-thông tìm trong lục-đạo coi mẹ sanh ở đâu, Ngài thấy bà đang mang thân ngạ-quỷ, khổ-sở vô cùng.  Ngài thương xót mẹ, nên đi khất thực được một bát cơm, liền vận thần thông đem đến dâng cho mẹ.  Khi được bát cơm, tay trái bà bưng bát cơm, tay mặt bốc cơm để vào miệng, cơm vừa tới miệng liền hóa thành lửa.  Tôn-giả Mục-Kiền-Liên thấy mẹ ăn cơm không được nên khổ-sở vô cùng, muốn thọ hình phạt thay mẹ cũng không được vì không làm sao cải lại luật trời, Tôn-giả rơi nước mắt.

        Chúng ta thử hỏi:  Tại sao Ngài không dùng thần-thông thổi cho tắt lửa, để mẹ Ngài dùng cơm cho no lòng mà lại đứng khóc?  Như vậy mới thấy thần-thông không cứu được nghiệp ác của người thân, không chi-phối được nghiệp lực.  Hai cái khác biệt nhau rõ-ràng.  Thần-thông không đưa người đến sự an-lạc vĩnh-viễn, mà cũng không cứu được nghiệp ác làm cho người đau-khổ.  Vậy, tu thiết-tha mong cầu chứng đắc thần-thông, hay tu cốt để đoạn nghiệp ác, để tránh khỏi khổ đang chi phối cả kiếp người?

        Sau đó, Tôn-giả Mục-Kiền-Liên trở về thuật lại cảnh khổ của mẹ Ngài và cầu Phật dùng phương-tiện để giải-cứu.  Phật dạy:  Ngài muốn cứu vớt mẹ phải đợi đến ngày rằm tháng bảy (vừa xong mùa an-cư tự-tứ) có đủ chư Tăng, Đại-Đức tựu về mở hội Vu-Lan bồn để tụng kinh, bố-thí giải tội cho mẹ.

        Ngài y lời dạy của Đức Phật, đúng ngày rằm tháng bảy, lập đàn, tụng kinh, bố-thí cho chúng-sanh rất kính-cẩn, thành-tâm.  Cùng lúc ấy, bà Thanh-Đề ở âm-phủ do đã thọ lãnh quá nhiều nỗi cực-hình đau-đớn nên lòng hung-ác cũng giảm bớt dần, bà bắt đầu ăn-năn hối-hận về những hành-động ác-độc của mình và thành tâm hướng-thiện.  Rồi do lòng hiếu-thảo thành-khẩn của Mục-Kiền-Liên, hợp với lòng từ-bi của chư Tăng đạo cao đức trọng, thành-tâm chú-nguyện và trên hết là do ơn lành vi-diệu của chư Phật đã giúp cho vong hồn bà Thanh-Đề được siêu-thoát.

        Chính sự kiện nầy mà về sau hàng Phật-tử noi theo gương hiếu-thảo của Tôn-giả Mục-Kiền-Liên, là một bậc xuất-gia tu-hành chứng quả A-La-Hán, không quên công ơn cha mẹ, vẫn nhớ và muốn đền-đáp.  Nên hàng Phật-tử mỗi năm sau mùa an-cư tự-tứ của chúng Tăng, đều làm Lễ Vu-Lan thỉnh chư Tăng cúng dường để tỏ lòng hiếu-thảo nhớ ơn cha mẹ, cầu siêu cho cha mẹ và mong cho cha mẹ thoát khỏi cảnh khổ.  Đó là tinh-thần từ-thiện tốt đẹp, việc làm đạo-đức căn-bản mà Đức Thầy đã nêu lên để làm tấm gương hiếu-hạnh cho mọi người noi theo:

                               “Mục-Liên cứu mẹ bằng nay,

                           Nhờ người hiếu-hạnh tâm rày từ-bi.”        (trang 102 SGTVTB 2004)

        Chính vì tấm gương hiếu-hạnh đó của Tôn-giả Mục-Kiền-Liên mà ngày hội Vu-Lan bồn cũng được gọi là ngày báo hiếu.  Vậy, HIẾU là gì?  Hiếu là tình-cảm tha-thiết, đậm-đà, thiêng-liêng cao-quý của con cái đối với ông bà, cha mẹ.  Nó thể-hiện qua sự hết lòng thương-yêu, thờ kính, phụng-dưỡng mẹ cha.

        Trong nền luân-lý Đông-phương nói chung và Việt-Nam nói riêng, chữ Hiếu rất quan-trọng.  Đức-tính nầy được nâng lên hàng Đạo (Hiếu-đạo) chớ không còn đơn-thuần là một thái-độ đối-xử hợp-lý của con cái đối với ông bà, cha mẹ như ta thường nghĩ.  Sách xưa có câu:  “Thiên kinh vạn điển, hiếu-nghĩa vi tiên”, có nghĩa là muôn ngàn kinh của Phật Thánh Tiên đều dạy sự hiếu-nghĩa làm đầu.  Nho-giáo coi Hiếu là cái gốc hay cái bước đầu căn-bản để hành-sử đạo Nhân (đạo làm người).  Trước tiên là phải thương-yêu, kính-trọng ông bà, cha mẹ, anh em trong gia-đình.  Ai mà không làm được điều căn-bản đó thì chắc-chắn không phải là người tốt ngoài xã-hội được.  Điều nầy được áp-dụng triệt-để cho mọi hạng người trong xã-hội, từ vua quan cho đến thứ-dân.

        Nhiều gương hiếu-thảo của người xưa được truyền-tụng lại cho đời sau noi theo.  Điển-hình là truyện “Nhị thập tứ hiếu” kể lại chuyện 24 người con có hiếu ngày xưa ở bên Tàu do Lý-Văn-Phức, một vị quan triều Nguyễn soạn và diễn Nôm:  Chuyện ông Thuấn có kế mẫu ác-nghiệt mà vẫn vui-vẻ chịu-đựng, được vua Nghiêu mến đức rước về truyền ngôi.  Thầy Tử-Lộ đội gạo đường xa nuôi mẹ.  Ông Mạnh-Tông khóc khiến măng mọc giữa mùa Đông (trái mùa) nhờ đó có măng nấu cho mẹ ăn hết bịnh.  Ông Hoàng-Hương quạt nồng ấp lạnh cho cha ngủ ngon giấc.  Thầy Mẫn-Tử-Khiên bị mẹ ghẻ đối-xử tệ-bạc mà vẫn vui-vẻ chấp-nhận để cho cha được vui-lòng, ...  Còn ở Việt-Nam chúng ta cũng có những gương hiếu-hạnh cao-cả mà vua Tự-Đức triều Nguyễn là một hình ảnh sáng ngời.  Sử kể lại rằng nhân lúc rảnh việc nước, Ngài ngự săn-bắn ở một cánh rừng nọ, gặp phải nước lụt, còn hai ngày nữa là đến giỗ  vua cha là Thiệu-Trị mà Ngài vẫn chưa về.  Đức Từ-Dụ, mẹ Ngài, nóng ruột mới sai quan Đại-Thần Nguyễn-Tri-Phương đi đón.  Về đến nơi, biết lỗi, Ngài vội vàng sang cung Đức Từ-Dụ lạy để chịu tội.  Đức Từ-Dụ hãy còn giận, ngồi xoay mặt vào màn, chẳng nói gì cả.  Ngài lấy một cây roi mây dâng lên, để trên ghế trát-kỷ rồi nằm xuống xin chịu đòn.  Một lát sau, Đức Từ-Dụ mới xoay mặt ra, lấy tay hất cây roi mà ban rằng:

        - Thôi, tha cho!  Đi chơi để cho quan quân cực-khổ thì phải ban thưởng cho người ta, rồi sớm mai đi hầu kỵ.

        Ở thời quân-chủ chuyên-chế, vua có quyền-uy tối-thượng mà nhà vua lại tôn-kính mẹ như vậy thì quả từ xưa đến nay thật là hiếm có.

        Thời cận-đại, chúng ta có Quan Thượng-Đẳng Đại-Thần Nguyễn-Trung-Trực cũng là một bậc đại hiếu.  Truyện kể lại rằng trong lúc bận việc nước non đa-đoan, nghe tin mẹ bị bịnh, Ngài liền về lo chăm-sóc thuốc-thang cho mẹ.  Sau đó, có một số lãnh-tụ nghĩa-quân đến để bàn với Ngài về việc đánh Pháp chiếm thành Kiên-Giang.  Ngài một tay vịn đốc kiếm, một tay quạt siêu thuốc cho mẹ, còn miệng thì trao-đổi kế-hoạch hành-quân.  Khi mẹ hết bịnh rồi Ngài mới ra đi.  Thật là một tấm gương trung-hiếu vẹn toàn.

        Quan-niệm trọng Hiếu của đạo Nho đã in đậm nét trong văn-học và đời sống ở Việt-Nam.  Nhà Nho tích-cực nhập-thế Nguyễn-Công-Trứ đã coi Trung Hiếu là một điều-kiện tiên-quyết để hiện-hữu trong cõi đời của nam-nhi, gắn liền với công-danh sự-nghiệp:

                       “Có trung hiếu nên đứng trong trời đất,

                         Không công-danh thà nát với cỏ cây.”

        Nguyễn-Đình-Chiểu, một nho-sĩ tiết-tháo, khẳng-định Trung Hiếu là đức-tính căn-bản trước nhất mà người con trai phải có:

                       “Trai thời trung hiếu làm đầu,”

        hay là:

                       “Làm trai trong cõi người ta,

                    Trước lo báo bổ, sau là hiển-vang.”

báo bổ ở đây chính là việc báo hiếu.  Đó là ý-nghĩa chữ Hiếu theo tinh thần của đạo Nho.  Còn Phật-Giáo thì thế nào?

        Tuy đường lối tu-hành là xuất-thế, dứt bỏ lục-dục thất-tình, ly-gia cát-ái, nhưng Hiếu-đạo lại được nhắc-nhở trong nhiều bộ kinh Phật.  Đối với Phật-Giáo, “Hiếu đứng đầu muôn vạn điều lành” (Vạn thiên dĩ hiếu vi tiên).

        Kinh Nhẫn-Nhục viết:  “Điều thiện tối cao không gì bằng hiếu.  Điều ác tối cao không gì bằng bất hiếu.” (Tối cao chi thiện bất như hiếu.  Tối cao chi ác bất như bất hiếu).

        Kinh Hiếu-Tử cũng có ghi:  “Nếu chúng-sanh mà không gặp Phật thì hãy xem cha mẹ như Phật, gần-gũi cha mẹ như gần Phật, tôn-thờ cha mẹ như tôn-thờ Phật, vâng-lời cha mẹ như vâng-lời Phật, như vậy mới là hiếu.”

        Trong kinh A-Hàm, Phật có dạy như sau:  “Người biết ơn và đền ơn, dù ở xa ta ngàn dặm cũng như hầu cận bên ta; ngược lại, người không biết ơn và không đền ơn, dù ở hầu cạnh bên ta cũng cách xa ta ngàn dặm”.  Phật dạy, đạo-đức bắt nguồn từ chỗ biết ơn và đền ơn.  Người lương-thiện là người thọ ơn ai không bao giờ quên.  Những lúc mình nguy-khốn được người giúp-đỡ, khi người hoạn-nạn thì mình phải sẵn-sàng giúp-đỡ lại, không ngại khó-khăn, gian-khổ.  Vì vậy, nếu ơn sanh-dưỡng sâu nặng mà chúng ta quên đi thì những cái ơn khác không dễ gì nhớ được.  Thế nên, người có đạo-đức chân-thật là người biết ơn và nhớ ơn sanh-dưỡng của cha mẹ.  Dù cho cha mẹ còn hay mất, mỗi mùa Vu-Lan đến, người con hiếu-thảo vì cha mẹ làm việc phước-thiện, để hướng tâm-tưởng thiện-lành đến với cha mẹ, mong cho cha mẹ được nhẹ-nhàng hết khổ.  Đó là kẻ biết ơn và đền ơn như thế-gian thường nói:  “Uống nước nhớ nguồn, ăn trái nhớ kẻ trồng cây”.  Nhớ ơn cha mẹ là căn-bản đạo-đức vậy.

        Còn chữ Hiếu trong Giáo-Lý Phật-Giáo Hòa-Hảo thì như thế nào?

II.   Ý-nghĩa chữ Hiếu trong Giáo-Lý Phật-Giáo Hòa-Hảo

        Cũng như Nho-Giáo và Phật-Giáo, Phật-Giáo Hòa-Hảo cũng trọng Hiếu-đạo vô cùng.  Đức Huỳnh Giáo-Chủ đã khẳng-định hiếu-nghĩa đứng đầu (hiếu-nghĩa vi tiên) trong cuộc sống con người, chữ Hiếu được thực-hành trước tiên trên bước đường tu học, kế đến làm các điều thiện, sau hết dùng Phật-pháp diệt-trừ nghiệp chướng, tịnh-tâm, đắc được phật tánh nơi lòng, đạt được bất sanh bất diệt:

                         “Nhơn sanh hiếu-nghĩa dĩ vi tiên,

                           Hành thiện tri kinh thị sĩ hiền.

                           Kiếm huệ phi tiêu đoàn chướng-nghiệp,

                           Phật tiền hữu nhựt vĩnh an-nhiên.”   (trang 231 SGTVTB 2004)

        Thế nên, ân Tổ-tiên Cha Mẹ được xếp lên hàng đầu trong giáo-lý Tứ-Ân của Phật-Giáo Hòa-Hảo, như Đức Thầy đã dạy:  “Muốn làm xong hiếu-nghĩa, có bốn điều ân ta cần phải hy-sinh gắng-gổ mới mong làm trọn:

1.   Ân Tổ-Tiên Cha Mẹ,

2.   Ân Đất-Nước,

3.   Ân Tam-Bảo,

4.   Ân Đồng-Bào và Nhơn-Loại (với kẻ xuất-gia thì ân đàn-na thí-chủ).”

                                                                                          (trang 180 SGTVTB 2004)

        Việc tu-hành và thực-thi lòng hiếu-thảo luôn được gắn chặt vào nhau.  Nếu người tu-hành không nhớ công-ơn cha mẹ thì việc tu-hành chỉ là một việc làm ích-kỷ, không có căn-bản đạo-đức, như Đức Thầy đã dạy:

                                  “Ai mà biết chữ tu trì,

                           Cha mẹ còn sống vậy thì cho ăn.

                                  Không làm để ở lung-lăng,

                           Chưởi cha mắng mẹ lăng-xăng thiếu gì.

                                  Ở cho biết nhượng biết tùy,

                           Vui lòng cha mẹ vậy thì mới ngoan.”        (trang 102 SGTVTB 2004)

        Trong Giáo-Lý Phật-Giáo Hòa-Hảo, Đức Thầy có nêu lên chuyện của ông Mạnh-Tông trong Nhị Thập Tứ Hiếu để khuyên dạy bổn-đạo lấy đó làm tấm gương hiếu thảo.

        Mạnh-Tông nhà nghèo, cha mất sớm, nổi tiếng là người con ngoan-ngoãn, lòng đầy hiếu-hạnh.  Một hôm mẹ bị bệnh, thèm ăn canh măng trái mùa (mùa Đông).  Mạnh-Tông không tìm được măng, đau lòng, buồn-bã, ngồi dưới gốc tre than-thở.  Do lòng hiếu-thảo thấu đến trời xanh, nơi đất khô bỗng mọc lên vài mụt măng non.  Chàng mừng rỡ, bẻ măng đem về nấu canh cho mẹ dùng để tỏ lòng hiếu-thảo của mình và mẹ hết bệnh.  Đức Thầy dạy:

                             “Mạnh-Tông xưa cũng khóc măng,

                       Đất khô nẩy mụt rõ lòng hiếu-nhi.”       (trang 111 SGTVTB 2004)

        và:

                         “Sách có chữ thâm ân dục báo,

                           Phận làm người hiếu-thảo noi gương.”  (tr. 345 SGTVTB 2004)

        Như chúng ta đã biết, qua phong-tục Việt-Nam, không chỉ có Nho-gia hoặc tu-sĩ mới biết hiếu-đạo, mà người bình-dân ít học cũng thấm-nhuần và hành-sử chặt-chẽ đức-tính cao quý nầy.  Chắc-chắn họ không biết Hiếu là đầu mối của đạo Nhân như Nho-giáo quan-niệm, hay là điều thiện tối cao như Phật-giáo ca-tụng, mà họ chỉ biết một cách đơn-giản là cha mẹ có công sanh-thành dưỡng-dục, và bổn-phận làm con là phải lo báo đền.  Ý-thức hiếu-thảo tự-nhiên giản-dị nầy được thể hiện qua phong-tục thờ cúng Tổ-tiên trong hầu hết mọi gia-đình Việt-Nam từ thành-thị đến thôn-quê, và qua lời lẽ chân-tình mộc-mạc trong ca-dao, ngạn-ngữ:

                               “Công cha như núi Thái-sơn,

                         Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

                                 Một lòng thờ mẹ kính cha,

                         Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.”

 

                               “Mẹ già như chuối ba-hương,

                         Như xôi nếp mật, như đường mía lau.”

 

                               “Ơn cha nặng lắm ai ơi!

                         Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu-mang.”

 

                               “Công cha như núi ngất trời,

                         Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông.

                                 Núi cao biển rộng mênh-mông,

                         Cù-lao chín chữ ghi lòng con ơi!”

        Cù-lao chín chữ là:  Sinh (cho ra đời), Cúc (nuôi-nấng), Phủ (vỗ-về), Súc (cho bú mớm), Dục (dạy bảo), Cố (trông-nom), Phục (quấn-quít), Phủ (nâng-nhắc), và Phúc (bồng ẩm).

        Qua đó, chúng ta thấy công-ơn cha mẹ thật là to lớn, vô lượng, và chỉ khi nào có nuôi con thì ta mới hiểu và thông-cảm được:

                               “Lên non mới biết non cao,

                         Nuôi con mới biết công-lao mẫu-từ.”

        Do đó, đối với dân-gian, dù tu ở đâu, tu cách nào cũng không bằng làm tròn chữ Hiếu:

                               “Tu đâu bằng tu tại gia,

                         Thờ cha kính mẹ mới là chơn tu.”

        Rõ-ràng, từ ngàn xưa người dân Việt chất-phác, thật-thà đã biết bày tỏ lòng kính-yêu và biết ơn cha mẹ một cách tha-thiết, chân-thành.  Ý-thức “Phụ mẫu tình thâm, ân cao nghĩa dầy” đó đã tiếp-tục luân-lưu trong huyết-quản, tình-tự dân-tộc ngàn sau qua lời thơ ý nhạc êm-ái, ngọt-ngào:

        “Lòng mẹ bao la như biển Thái-Bình rạt-rào,

          Lòng mẹ tha-thiết như đồng lúa chiều rì-rào …”        (Lòng Mẹ, Nhất-Hạnh)

        Qua những lời dẫn-giải trên đây, chúng ta đã thấy Hiếu là đức-tính hàng đầu của người Việt-Nam.  Dù có đạo hay không, dù là người bình-dân hay trí-thức đều coi trọng chữ Hiếu và lo báo đáp.  Bởi vì theo lời Đức Thầy dạy, mọi người đều nhận-thức:  “Ta sanh ra trong cõi đời có được hình-hài để hoạt-động từ thuở bé cho đến lúc trưởng-thành, đủ trí khôn-ngoan, trong khoảng bao nhiêu năm trường ấy, cha mẹ đã chịu biết bao hy-sinh khổ-nhọc; nhưng sanh ra cha mẹ là nhờ có tổ-tiên, nên khi biết ơn cha mẹ, cũng có bổn-phận phải biết ơn tổ-tiên nữa.” (trang 180-181 SGTVTB 2004).

        Việt-Nam ta có Lễ Vu-Lan (Mùa Báo Hiếu) của Phật-Giáo.  Các nước Tây phương như Hoa-Kỳ, Canada có Ngày Hiền-Mẫu (Mother’s Day), Ngày Từ-Phụ (Father’s Day) để con cái đưa cha mẹ đi ăn, tổ-chức tiệc liên-hoan, tặng hoa, tặng quà cho các Cụ, … Đó cũng là truyền-thống “Uống nước nhớ nguồn” đáng quý.  Tuy nhiên, đây cũng chỉ là những hình-thức có tính-cách tượng-trưng, nhứt là mỗi năm làm một lần, thì có vẻ hời-hợt và chiếu-lệ quá.  Trong khi đó, người con hiếu-thảo lúc nào cũng ghi lòng tạc dạ, từng giờ từng phút, và cố-gắng lo đền đáp trong muôn một công-ơn trời biển đó của cha mẹ.

        Vậy bổn-phận làm con ta phải báo hiếu như thế nào để đền-đáp lại công-ơn trời biển của cha mẹ cho đúng và phải đạo?  Đức Thầy có dạy:

        “Muốn đền ơn cha mẹ, lúc cha mẹ còn sanh-tiền, có dạy ta những điều hay lẽ phải ta rán chăm-chỉ nghe lời, chớ nên xao-lãng, làm phiền lòng cha mẹ.  Nếu cha mẹ có làm gì lầm-lẫn trái với nhân-đạo, ta rán hết sức tìm cách khuyên-lơn ngăn-cản.  Chẳng thế ta còn phải lo nuôi dưỡng báo đền, lo cho cha mẹ khỏi đói rách, khỏi bịnh-hoạn ốm-đau, gây sự hòa-hảo trong đệ-huynh, tạo hạnh-phúc cho gia-đình, cho cha mẹ vui-lòng thỏa-mãn.  Rán cầu cho cha mẹ được hưởng điều phước thọ.  Lúc cha mẹ quá vãng, hãy tu cầu cho linh-hồn được siêu-thăng nơi miền Phật cảnh, thoát đọa trầm-luân.

        Còn đền ơn tổ-tiên, ta đừng làm điều gì tồi-tệ điếm-nhục tông-môn, nếu tổ-tiên có làm điều gì sai lầm gieo họa đau-thương lại cho con cháu, ta phải quyết chí tu cầu và hy-sinh đời ta làm điều đạo-nghĩa, rửa nhục tổ-đường.” (trang 181 SGTVTB 2004).

        Đức Phật cũng dạy rằng:  “Làm người con Phật, không một ai là không nghĩ đến công-ơn sanh-thành dưỡng-dục của cha mẹ hiện thời và ông bà tổ-tiên trong quá-khứ để tìm cách cứu-độ và chuyển-hóa.  Nếu chỉ cung-phụng dưỡng-nuôi vật-chất đầy đủ mà linh-hồn đọa-lạc thì quả là một điều thiếu sót lớn-lao”.   Thế nên, con cái cần phải cầu nguyện giúp cho cha mẹ giác-ngộ tìm về chánh-pháp để được giải-thoát, siêu-sanh về miền cực-lạc sau khi từ giã cõi thế-gian nầy.

        Tuy nhiên, trong môi-trường xã-hội chạy đua với thời-gian, quá bận-rộn với công ăn việc làm như hiện nay, chúng ta không có đủ thì giờ và hoàn-cảnh thuận-tiện để làm như người xưa, chẳng hạn:

                              “Mẹ già ở túp lều tranh,

                         Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con.”

                        

                              “Tôm càng lột vỏ bỏ đuôi,

                         Giã gạo cho trắng mà nuôi mẹ già.

                                Đói lòng ăn đọt chà-là,

                         Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng.”

 

                              “Đêm đêm thắp ngọn đèn trời,

                         Cầu cho cha mẹ sống đời với con.”

hay “giữa mùa Đông khóc cho măng mọc” để nấu cho mẹ ăn hết bịnh như ông Mạnh-Tông, … Vì vậy, bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, trong khả-năng, phương-tiện và điều-kiện thuận-tiện, chúng ta cũng phải cố-gắng chu-toàn bổn-phận, rất bình-thường giản-dị của người con hiếu-thảo; chớ không phải chờ có mâm cao cỗ đầy, quà tặng quý giá trong những buổi lễ tưng-bừng mới gọi là báo hiếu.  Vậy, muốn báo hiếu phải làm như thế nào?

Ø  Lúc còn nhỏ, ở nhà phải vâng lời cha mẹ dạy bảo, nói-năng lễ-độ, cố-gắng học-hành siêng-năng giỏi-giắn, tiếp giúp công-việc nhỏ-nhặt trong nhà, làm điều tốt đẹp để cha mẹ vui lòng, anh em phải hòa-thuận (Anh em hòa-thuận hai thân vui vầy).  Khi lớn lên, phải biết giữ-gìn cử-chỉ, hành-động, đừng lêu-lổng làm chuyện sai quấy, có phương-hại đến bản thân và danh-dự gia-đình khiến cha mẹ đau khổ buồn phiền.  Đức Thầy dạy rằng:

                               “Con thì ăn ở nhu-mì,

                     Học theo luân-lý kính vì mẹ cha.”     (trang 66 SGTVTB 2004)

Ø  Khi cha mẹ già yếu, con cái phải nuôi-nấng, phụng-dưỡng, món ngon vật lạ thường dâng.  Khi cha mẹ đau yếu thì phải ân-cần chăm-sóc thuốc-thang.  Nhiều người lúc cha mẹ còn sống thì chẳng ngó-ngàng, lơ-là miễn-cưỡng, đến khi cha mẹ mất rồi mới khóc-lóc tiếc thương, làm giỗ linh-đình thịnh-soạn, lúc bây giờ cha mẹ còn đâu nữa mà hưởng!  Nuôi cha mẹ không chưa đủ, mà ta còn phải thương-yêu, kính-trọng nữa.  Đức Khổng-Tử, “Vị thầy muôn đời” (vạn thế Sư biểu) của Đạo Nho, khi trả lời cho một đệ-tử hỏi về Hiếu đã nói:  “Đến như chó ngựa người ta còn nuôi, nếu nuôi cha mẹ mà chẳng kính thì chẳng khác gì nuôi chó ngựa”.  Do đó, khi phụng-dưỡng cha mẹ, sắc mặt con cái lúc nào cũng phải vui-vẻ, cung-cách ân-cần, kính-trọng dù cho khổ-cực đến đâu.  Khi cha mẹ có làm điều gì lỗi-lầm thì cũng dịu-dàng can-ngăn, dù cha mẹ không nghe cũng vẫn một lòng hiếu-thảo rồi lựa lời khuyên-giải sau để cha mẹ biết lẽ phải mà sửa đổi.  Nhiều người tỏ ra cau-có, bực-dọc, than-vãn, đôi khi có thái-độ bất kính đối với cha mẹ chỉ vì không chịu được cực khổ, tốn hao mà họ quên rằng:

                       “Cha mẹ nuôi con như trời như bể,

                         Con nuôi cha mẹ con kể từng ngày.”

 

                       “Cha mẹ nuôi con như biển hồ lai-láng,

                         Con nuôi cha mẹ con tính tháng tính ngày.”

    Đức Thầy dạy rằng:

                               “Mẹ cha là kẻ trọng ân,

                     Dưỡng nuôi báo hiếu lúc thân yếu già.”  (trang 108 SGTVTB 2004)

    Hơn nữa, muốn cha cha mẹ an-vui trong hiện đời và an-vui trong mai hậu, ngoài việc cung-phụng nuôi-dưỡng cha mẹ về mặt vật-chất, nếu cha mẹ chưa biết đạo, phải tạo duyên tốt khiến cho cha mẹ phát-tâm tu-hành, bỏ ác làm lành.  Vì người phát tâm lành, làm việc lành mới khỏi đoạ ba đường ác (địa-ngục, ngạ-quỷ, súc-sanh) và sanh vào cõi lành, được an-vui.  Cho cha mẹ ăn ngon, mặc đẹp, ở sang, tuy là hiếu-thảo, nhưng hiếu-thảo đó chỉ tạm-bợ không lâu dài, vì cha mẹ sẽ chết và không còn hưởng-dụng những thứ đó nữa.  Tạo duyên lành cho cha mẹ hướng về đường thiện, thì chẳng những bảo-đảm trong đời nầy ít khổ mà đời sau cũng hết khổ.  Chính việc làm đó mới là báo hiếu chân-thật.  Vì vậy, quý đồng-đạo ai được vinh-hạnh có cha mẹ còn tại-tiền, hãy rán tạo điều-kiện giúp cho cha mẹ tu-hành, đó là cách báo hiếu lớn nhất.

Ø  Khi cha mẹ quá cố rồi, chúng ta không làm gì khác được, nên mới bố-thí, cúng dường để hồi-hướng phước lành cho cha mẹ, ta phải thờ cúng một cách thành-tâm tôn-kính, không cẩu-thả chiếu-lệ, và thường-xuyên cầu nguyện cho tội lỗi của cha mẹ được tiêu-mòn, sớm siêu-thoát, vãng-sanh miền cực-lạc.  Như Mục-Kiền-Liên cứu vong-linh của mẹ, hóa sanh về Tiên-cảnh, nhờ lòng hiếu-hạnh và tâm từ-bi của Ngài:

                              “Mình làm chữ hiếu mới hay,

                        Chớ mướn người ngoài cầu nguyện khó siêu.

                                Muốn cho tội lỗi mòn tiêu,

                        Thành tâm cầu nguyện sớm chiều mới hay.

                                Mục-Liên cứu mẹ bằng nay,

                        Nhờ người hiếu-hạnh tâm rày từ-bi.”   (trang 102 SGTVTB 2004)

       và:

                               “Hiếu-trung truyện tích sờ-sờ,

                        Người đời phải biết phượng-thờ mẹ cha.” (tr.322 SGTVTB 2004)

             Khi làm lễ giỗ cho cha mẹ, chớ nên giết súc vật để cúng tế, phải thủ lễ chay để cho vong-linh người quá cố được dễ-dàng siêu-thoát, như Đức Thầy đã dạy:

                         “Cháu con báo hiếu theo nhà Phật,

                           Cha mẹ qua đời thủ lễ chay.

                           Trong sạch nghĩa nhân vầy mới đáng,

                           Hồn linh siêu thoát nhẹ cao bay.”     (trang 561 SGTVTB 2004)

        Phần trình-bày trên đây chỉ là những điều căn-bản tối-thiểu của một người con hiếu-thảo có thể làm được để đền đáp một phần trong muôn ngàn công-ơn của cha mẹ.  Ngoài ra, việc báo hiếu cũng tùy thuộc vào hoàn-cảnh xã-hội, vào cuộc sống.  Chúng ta phải linh-động thế nào cho phù-hợp với hoàn-cảnh sống hiện-tại mà vẫn giữ được tinh-thần và truyền-thống hiếu-đạo cao đẹp của ta, như Đức Thầy đã dạy, nếu làm tròn đạo Hiếu-Trung  thì sẽ được vị ngôi nơi Tiên-cảnh:

                              “Hiếu-trung lòng chớ vội quên,

                         Sống lo trọn Đạo, thác lên Tiên-Đài.”  (trang 172 SGTVTB 2004)

        Kính chúc tất-cả quý-vị một mùa Vu-Lan an-lạc, Hiếu-đạo tròn đầy!

                Nam-Mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật!

                Nam-Mô A-Di-Đà Phật!

 

                Nguyễn-Trung-Hiếu

                  (thuyết giảng nhân ngày Lễ Vu-Lan tại Toronto, 30-8-2009 D.L.)

Sách Tham Khảo:

1.   SẤM GIẢNG THI VĂN TOÀN BỘ (SGTVTB 2004) của Đức Huỳnh Giáo Chủ, Giáo Hội PGHH, ấn bản năm 2004 tại Hải Ngoại.

2.   Thành-Ngữ Điển-Tích Danh-Nhân Tự-Điển của Trịnh-Vân-Thanh, ấn bản năm 1967 tại Việt-Nam, nxb. Xuân-Thu.

3.   Việt-Nam Danh-Nhân Tự-Điển của Nguyễn-Huyền-Anh, ấn bản năm 1967 tại Việt-Nam, nxb. Khai-Trí.
 
Comments