2013/09/18 - BIẾT TRI VIỆC PHẢI

BIẾT TRI VIỆC PHẢI


        Hôm nay ngày 16 tháng 9 nhằm 12 tháng 8 năm Quý Tỵ 2013 ngày chánh cúng lễ viên tịch Đức Phật Thầy Tây An.

         Cám ơn quý đạo hữu không ngại khó ghé thăm tôi trên đường dự lễ viên tịch Đức Phật Thầy Tây An về. Hỏi ra thì biết xứ của quý đoàn cách tôi có khoảng bốn năm mươi cây số nữa mà Trời đã ngả bóng chiều. Một điều đáng trân trọng là quý vị đến sau cơn mưa to, hậu quả của cơn mưa to là biến nên con đường lầy lội, từ xa dẫn đến Thiên Quang Am đi trên ranh đất ruộng túm húm; nếu không phải nặng “duyên nợ thiền môn” với nhau chắc khó mà thuyết phục đôi chân người viễn xứ để đến cái nơi quá nhọc nhằn nầy.

         Quý vị có đồng ý vì chúng ta nặng nợ thiền môn với nhau không? Có thể là cái duyên xưa đấy! Thảo nào người xưa đã bảo: “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ” là thế. Tôi không đọc thêm cái câu cập kè bởi vì chúng ta không có “vô duyên đối diện”, đọc lên sẽ gây cảm giác khó chịu, mất hứng thú ngay.

         Quý vị đồng ý, cám ơn quý vị! Nếu đã vậy, chúng ta hãy đem chuyện thiền môn ra bàn để “hâm nóng” sự tu hành nếu như thửa lòng chúng ta có nhiều khoảng trống nguội lạnh. Nhân trong ngày lễ Viên Tịch Đức Phật Thầy Tây An (Đoàn Minh Huyên) lần thứ 158, 1856 – 2013, chúng ta nguyện có sự chứng minh của ngày lễ trọng nầy để chúng ta có một đề tài mà người nói và người nghe đạt kết quả tốt trong duyên nợ thiền môn.

         Câu “Ai Biết Tri Việc Phải Cứ Làm” sẽ là một câu hỏi, một đề tài gần gủi, sóng động qua tư duy của chúng ta. Tôi dùng từ “gần gủi” bởi vì ngủ sáng thức dậy ai mà không muốn cho mình là “PHẢI” suốt sao? muốn phải mà hành động quấy đó là thói quen của mồm mép, xem chừng, cái không ai muốn có mà phần đông gần như có quá nhiều, cho dầu Ông Khuất Nguyên xưa mà sanh trong thời này cũng phải trầm mình xuống đáy sông sâu “chết vì nước” nữa thôi.

         Khuất nguyên 340 – 278 trước tây lịch là người nước Sở làm đến chức quan to trong thời Sở Hoài Vương, Ông là người có tài năng, liêm chính chí công trong việc quan trường, văn thơ rất giỏi, là tác giả của “Khúc Ly Tao” đậm đà văn chất. Một số quan trong triều thấy Ông có tiếng thơm hơn đem lòng ganh tỵ cáo gian Ông lên vua. Nịnh thần luôn luôn là những tên làm dở mà hót thì rất hay, vua nghe lời sàm tấu không trọng dụng Ông nữa. Sau vua Tương Dương lên nối ngôi Sở Hoài Vương vẫn còn tin sự cáo gian của một số nịnh thần trong triều, đày Ông đi Giang Nam, cận sông Dương Tử, Ông đến bên bờ sông định gieo mình xuống đáy nước thì bị một gả thuyền chài xuất hiện hỏi Ông rằng: Phiền chi mà Ngài phải làm vậy? Khuất Nguyên Đáp: “Đời đục cả chỉ mình ta trong, đời say cả chỉ mình ta tỉnh nên ta phải bỏ họ mà đi”.

         Khuất Nguyên có cái lý của Ông ấy. Đọc về sử Ông thì tôi “Bái” nhưng nếu bây giờ ai nấy như Ông thì người ta chết nhiều lắm vì trong đời lại là cái lúc “đục” quá nhiều. Cho dù đời có “đục” ta cũng rán mà chịu và tìm cách biến đục thành trong. Rán đi!

         Chủ đề tôi vừa nêu là trích trong bài “Giác Mê Tâm Kệ” tức quyển thứ tư trong phần Sấm Giảng. Đức Thầy viết tác phẩm nầy vào ngày 20 tháng 9 năm Kỷ Mão 1939 tại làng Hòa Hảo nơi sinh ra và lớn lên của Ngài. Trong câu, sự nổi bật hơn hết dễ gây chú ý và có thể phát sinh những cảm hứng qua sự đo đạt của tri thức là cụm từ “BIẾT TRI VIỆC PHẢI”. “Tri” có nguồn gốc từ Hán Tự nhưng đã Việt hóa từ lâu. Người Việt ta, những nhà hay đọc sách, nặng về nghiên cứu rất là quen mắt quen tai, gợi lên sự hiểu biết: Tri là biết, nhưng nói tri là “biết” thì ý nghĩa cũng chung chung, vì sự hiểu biết của ai cũng rất đa dạng, có thiện có ác, đẹp xấu. Về khoa học, kẻ sản xuất độc tố người chế ra sinh tố. Quốc gia đại sự, có những cơ chế bất công thối nát, hại nước, hại dân; có những cơ chế vì dân, thực hiện nền dân chủ công bằng cho dân cả hai đều tự hào có đầy một bụng hiểu biết, khôn khéo hơn ai hết.

         Để làm sáng tỏ ai ác ai thiện ai tốt ai xấu là ở con mắt và tâm tình của đa số quần chúng ngưỡng mộ hay không ngưỡng mộ. Kẻ chế ra độc tố, cho dù bán với giá rất đắc, nhưng số lượng người tiêu dùng thì không có bao nhiêu, như người chế á phiện hay thuốc kích thích làm cho hung hản lên, ác cảm lên bán có được mấy phần trăm. Đã vậy việc làm còn phải lén lút trước pháp luật. Kết quả chỉ hại người thì không thể cho đây là “Việc Phải Cứ Làm”. Một chế độ không có tự do trong dân mà chỉ có trên miệng lưỡi sách báo. Bị hiếp, hết sức chịu đựng dân phải tự cứu mình bằng ra công đòi hỏi với nhà cầm quyền những nguyện vọng chân chánh thì bị lôi xác vào tù. Quốc gia có quá nhiều nhà tù, quá nhiều người phạm tội mà ở những quốc gia khác tội danh đó không có; trị dân bằng cây súng, bằng nhà tù, không cần biết số lượng niềm tin của nhân dân đối với nhà nước là bao nhiêu, cho dù có không phẩy phần trăm người theo, ít oi như vậy họ cũng không sợ thất thế vì họ còn cây súng để bảo vệ chế độ. Họ dựa vào sức mạnh của cây súng và nhà tù, nên súng đạn cứ tiếp tục mua, nhà tù tiếp tục xây dựng thêm, riết rồi nhà tù thấy đông như trường học thì không thể nói là tri tốt “việc phải” của nhà lãnh đạo quốc gia. Cái biết không phải mà cố làm thì việc “quấy” trong xã hội càng lúc càng tăng.

         Cất được một ngôi chùa là khó, tốn rất nhiều công sức tiền của, nhưng tìm được Ông chủ chùa là một Chơn Tăng lại còn khó hơn. Ông chủ chùa mà chơn tăng thì hạnh kiểm của Ông là đức lành ban rải, phước đức cho thiện nam tín nữ đến chùa. Lòng của Ông là lòng độ lượng vị tha, là lòng của Phật. Tăng chúng đến chùa lễ Phật cầu Pháp sẽ được Ông thuyết cho nghe những câu Pháp trang nghiêm thanh tịnh, gột rửa lòng trần để cuộc sống tiêu diêu tự tại không còn phiền lụy thế gian, Ông gỡ bớt cho họ trên vai những vật nặng không đáng có, những thói quen cố chấp không có lợi cho hành trình về cõi Phật được thượng lộ bình an. Có những vị xưng là đạo cao, học sâu hiểu rộng về Phật Pháp thường khoe khoan ta đây hơn Ông nầy Ông nọ nhưng không mấy điều được Ông đem cái học sâu hiểu rộng của Ông ra mà áp dụng cho chính bản thân Ông để gọi là “tri hành hợp nhất”. Ông khuyên chúng đừng đam mê danh lợi mà danh lợi trong Ông còn lớn hơn những người đến để được Ông khuyên. Cho dù bài thuyết giảng của Ông là chánh pháp nhưng nếu Ông không trụ chánh tâm thuyết pháp thì hiệu quả của bài thuyết pháp sẽ không mấy ích lợi cho người nghe pháp như họ đã nghe pháp của vị chơn tăng. Có thể người ta sẽ vỗ tay hoan nghênh Ông vì nghệ thuật diễn đàng Ông cấu kết những thuật vui, làm cái việc “mì ăn liền”, không dư vị để sau đó người ta có gợi nhớ cái hạnh kiểm và những câu pha trò vui vui của Ông lại không thấy nét đặc sắc của thiền môn học, không có dư vị để dư hưởng chuyện thiền môn ít bửa là bỏ tu thôi.

         Tu hành, yếu tố tri thức rất là quan trọng, bởi có tri thức thì sự hiểu biết mới rộng sâu và bén nhạy trước sự việc, vấn đề đặt ra có ngay đáp số chính xác. Muốn có tri thức thì phải chịu học và tập suy gẫm cho mở trí để sự hiểu biết rộng ra, đồng thời tự học qua bản thân mình ở điểm nào hay, chỗ nào dở, lúc nào vọng tâm nhiều, lúc nào ít vọng, ít vọng là do đâu, vọng nhiều là do đâu, vọng về việc gì nhiều nhất? Có những vọng ta hay được không quá muộn và đuổi thì nó biến ngay, có những vọng ở lâu ta không hay và khi hay mà đuổi nó không chịu sứt ra. Cần có vốn liếng tri thức để đáp ứng nhu cầu của sự tu qua nhận định chính xác.

         Tiện đây tôi xin trích câu nầy ra bàn bạc với quý vị nha! Đức Huỳnh Tôn Sư dạy:

                          “Rút trong các luật các kinh,

                      Tùy lòng không ép làm in giảng nầy.”

         Tôi đã tiếp cận với một vài vị giảng thuyết viên, có  lần nghe giảng trong dịp lễ cúng kỵ cơm một nhà đồng đạo, vị thuyết trình viên nói rằng: Đức Thầy chúng ta là cổ phật lâm phàm vì thương sót chúng sanh đang sống trong cảnh khổ mà Ngài “không thể ngồi yên nơi ngôi vị hưởng quả bồ đề trường thọ mà còn len lỏi xuống chốn hồng trần đặng chịu cảnh chê khen”. Đức Thầy chúng ta là Phật, đã viết dạy đủ trong quyển Sấm Giảng Thi Văn xem đó mà tu không cần thiết phải đọc học kinh sách của ai khác. Thêm vào đó, Đức Thầy nói rõ là Ngài đã “Rút trong các luật các kinh” viết ra một quyển Sấm Thi. Như thế, nếu xem trong quyển Sấm Thi là đã học đọc hết các kinh luật của Phật.

         Có phải, ý Ông ta muốn nói: Đức Thầy đã ra công trích lục các luật các kinh rồi sắc cô lại thành quyển Sấm Giảng Thi Văn, giờ chỉ đọc Sấm Giảng Thi Văn là đọc được hết thảy, bớt cho chúng sanh cái thời gian dài qua sự tầm chương trích cú?

         Bài thuyết như vậy quý vị có nghe được lổ tai không? Trả lời đi! Sao không vị nào trả lời cho tôi? Để tôi hả! chuyện đó là dĩ nhiên, nhưng tôi muốn xin ý kiến của quý vị. Thôi hả! Vậy tôi nói đây. Trước hết, tôi đồng ý với vị thuyết trình viên nói Đức Thầy là Phật bởi qua bút tích chứng minh:

                          “Lời của người di tịch Núi Sam,

                            Chớ chẳng phải bài điều huyễn hoặc.

                            Cảnh Thiên Trước thơm tho nồng nặc,

                            Chẳng ở yên còn xuống hồng trần.

                            Ấy vì thương trăm họ vạn dân,

                            Nên chẳng kể tấm thân lao khổ.”

         và câu:

                          “Bửa xưa giảng kệ một nang,

                         Bởi vì ta mắc dời thoàn cảnh xa.”

         Thêm vào đó, tôi xin đưa ra những câu nghi vấn như sau:

         1.  Nếu bảo, hầu hết tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo chỉ đọc, học trong bộ Sấm Thi là đủ để viên thành Phật Quả, không cần tìm hiểu kinh sách của ai khác cho đỡ luống công vô ích. Nói như vậy tôi e không ổn.

         Nếu một hành giả chuyên biệt qua pháp môn Tịnh Độ, siêng suốt niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà, không cần biết gì khác ngoài Nam Mô A Di Đà Phật, nói như vậy thì có thể. Nhưng chúng ta được mấy người siêng suốt niệm Phật? Tại gia cư sĩ, vì sự sống người ta còn phải lo làm ăn, cái khoảng trống không niệm Phật rất nhiều nếu không có chánh pháp để lấp vào khoảng trống đó thì tà pháp nổi búa xua. Người tu bền là có cái thế mạnh của chơn tâm, thế mạnh của chơn tâm cũng bắt đầu từ chơn pháp. Kẻ sáng tu chiều rớt là thường đánh mất chơn tâm, vọng tâm nó làm chủ tình hình mà đầu đề cũng thiếu hiểu về chơn pháp. Cứ thử xem! Đức Thầy dạy:

                          “Coi rồi phải nhận cho hiểu lý,”

         Hoặc:

                          “Tìm hiểu nghĩa làm theo đắc đạo.”

         Như vậy, “Cầu tu cho đạt ngũ hương” hay “vẹn mười ơn mới đạo làm con” chúng ta hiểu thế nào là “Ngũ Hương, Mười Ơn”? nếu không hiểu té ra ta không có thời giờ để đọc câu “Tìm hiểu nghĩa làm theo đắc đạo” sao? Trong khung giảng kệ Đức Thầy kêu hành giả tu cho đạt “ngũ hương” nhưng không giải thích hương gì với hương gì, dạy phải “Vẹn mười ơn” mà không kể ra mười ơn đó. Không hiểu nghĩa mà bảo rằng tu là tu cái kiểu gì chứ?

         2.  Nói Đức Thầy rút từ trong các luật các kinh mà dạy chúng thì thật là nói oan cho Ngài. Nếu không bảo Đức Thầy là Phật mà là một chơn tu thôi thì chuyện “rút trong các luật các kinh” ra làm Sấm Giảng Thi Văn cũng đành đi, nhưng khác hơn suy nghĩ đó vì Đức Thầy là giáo chủ của một tôn giáo, là Phật lâm phàm, Phật mà không có pháp hay sao phải đi mượn pháp của các Phật khác về dạy chúng? Nói Đức Thầy rút trong các luật các kinh thì Ngài chỉ còn là người nghiên cứu đạo Phật không hơn không kém. Sao lại có chuyện mâu thuẫn Phật mà cũng là nhà nghiên cứu Học Phật???

         Đức Phật, Phật nào cũng như Phật nào đều có tam thân tứ trí, có bình đẳng trí, bình đẳng tánh trí. Đức Thầy thật xui rủi, gặp cái gả đệ tử tín đồ kéo địa vị Thế Tôn của Ngài xuống chỗ bình thường chứ Ngài đã xác định:

                          “Tùy phong hóa dân sanh phù hạp,

                            Chấp bút thần tả ít bổn kinh.”

         Nói như trên thì tám vạn bốn ngàn pháp môn có sẵn, đến đâu chỉ tùy người mà lựa cho cái pháp vừa tu.

         3.  “Rút trong các luật các kinh” là Ngài dạy chúng ta phải làm vậy, cho nên câu sau mới nói “tùy lòng không ép làm in giảng nầy”. Quá rõ nghĩa, nếu không như vậy làm sao ta biết được ý nghĩa Ngũ Hương, Mười Ơn và nhiều, rất nhiều câu khác có nội dung đậm đà danh từ Phật Học?

         Cho dù Đức Thầy có nói: “Lời Phật thuyết ta xin nhắc lại” hoặc “Ta dạy thế mượn lời Phật Thánh” chẳng qua là phương tiện “Huyền” để độ đời. “Nhắc lại” hoặc “mượn lời” vì Đức Phật xưa nói như vậy. Niềm tin Phật xưa đã hẳng thì phải theo niềm tin đó mà dạy và khuyến khích thêm, nhưng những gì Phật xưa có thì Phật nay cũng có. Trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa Đức Phật nói:  Nước biển đâu đâu cũng chỉ có chất mặn, còn đạo của Như Lai dạy cũng chỉ một chất giải thoát mà thôi. Ràng buộc là chúng sanh mà giải thoát là Phật. Ví dụ như Đức Thầy nói câu nầy “Ta khùng điên nói đại nói càn, chẳng có sợ ai rầy ai mắng”. Nghe thấy như vậy quý vị có tin Đức Thầy khùng điên thiệt không?

         Tôi nói lại: Trừ phi chúng ta không tin Đức Thầy là Phật, chứ đã tin Ngài là Phật thì Phật nào cũng như Phật nào đều có pháp để dạy đời.

         Sự học qua chính bản thân như lúc nảy tôi nói, giữ tâm hồn thanh tịnh, không bụi bẩn dấy lên là cách học hay nhất, nhanh nhất để phát sinh trí huệ. Nếu thanh tịnh được tâm thì lời ta nói, việc ta làm, những gì ta suy nghĩ đều là chơn chánh, lợi ích cho ta và cho mọi người chính đó mới là “việc phải cứ làm”. Còn nói pháp mà vọng tâm về danh lợi, tình cảm, hơn thua, cao thấp; làm phước thiện cũng bị vọng tâm về danh lợi tình cả đến lễ bái, niệm Phật mà cái vọng tâm về việc thế trần ấy cũng đeo dính khắn không chịu sứt, cuộc chiến đeo đẳng mãi có ngày ta cũng “đầu hàng” thôi. Việc làm là phải rồi nhưng cái tâm cũng phải đi đôi theo việc làm phải mới đúng là VIỆC PHẢI CỨ LÀM.

         18/9/2013

        Lê Minh Triết

         (Viết lại cuộc gặp gỡ)


Comments