2013/06/29 - NHÂN NGÀY ĐẠI LỄ 18/5 NĂM 2013

NHÂN NGÀY ĐẠI LỄ 18/5 NĂM 2013

         Hôm nay nhân ngày Đại Lễ khai sáng đạo Phật Giáo Hòa Hảo 18/5 nhằm 25/6 dl 2013, từ những dãy đất mù xa quý vị không ngại vất vả, tốn sức, hao tiền, tìm về miền Đất Thánh – Trung tâm học Phật của Phật Giáo Hòa Hảo – để mà hòa nhập dòng người từ các nơi về tụ hội, cung nghinh đại lễ lần thứ 74, 1939 – 2013. Nhân tiện quý vị ghé thăm tôi với đôi lời vấn an sức khỏe. Với quý vị từ xa đến thăm lần đầu, tôi hân hoan mà thốt ra lời người xưa nói nhá: “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ” để mà gợi nhớ cho lần gặp gỡ nầy.

         Tôi xin chúc lành sự hiện diện của quý vị đã đến vùng Thánh Địa trong cuộc đại lễ kỷ niệm ngày khai sáng đạo lần thứ 74 này và tôi cũng xin bày tỏ lòng ngưỡng mộ của mình được quý vị ghé thăm, kể ra những câu chuyện hay ho, nóng hổi, hấp dẫn và duyên dáng phát sinh từ trong ngày đại lễ đạo mà tôi không được qua đó, dù với tôi, nhà chỉ cách một dòng sông rộng 500 mét là cùng.

         Để đáp lại những chuyện hay ho mà quý vị đã kể cho nghe, tôi xin cống hiến quý vị đôi điều về sự tu học đạo pháp Phật Giáo Hòa Hảo mà tôi đã lượm lặt từ chút qua những tháng năm dài trên đường từ bờ mê tìm sang bến giác với nguyện vọng cùng chư Phật an vui trong “Niết Bàn tịch tịnh”. Sự tu học ấy được đề cập từ tiêu điểm “Lục Căn Lục Trần”. Đối với những ai có tín ngưỡng Phật Giáo, lục căn lục trần có thể là một chuyên đề cho các hành giả, không hạn định bất cứ hành giả của một tông phái nào trong đạo Phật. Tu Tịnh Độ Hay tu Thiền hoặc tu cái gì, gì khác nữa thì đoạn đường cần phải vượt qua là chiến trận của lục căn lục trần, tìm sự thanh tịnh của tâm hồn là chính yếu.

          Duy Thức Tông là một trong mười tông phái của đạo Phật do Ngài Thiên Thân sáng lập hồi thế kỷ thứ năm bên Ấn Độ. Nguyên nhân sâu xa, một lần ngồi thiền định, Ngài gặp Bồ Tác Di Lặc dạy rõ về duy thức. Trong tu học Ngài liễu ngộ đạo Pháp, soạn ra bộ sách làm kinh căn bổn cho Duy Thức Tông dưới nhan đề là “ Duy Thức Luận”. Trần Huyền Trang lúc đi thỉnh Kinh bên xứ Ấn Độ vào thế kỷ thứ bảy đã ưng lòng khảo cứu Duy Thức Tông. Về nước và sau, Ngài đã trao truyền Tông phái nầy cho Khuy Cơ, đệ tử của Ngài. Lúc trả huyễn thân về cát bụi để nhập Niết Bàn trong lúc có ít bệnh, các đệ tử lo lắng, hỏi Ngài có giữ được chính niệm để về cõi Tây Phương không thì Ngài trả lời: Bình sanh Thầy không có nguyện về cõi Tây Phương của Đức Phật Di Đà sau khi cỡi bỏ huyễn thân, Thầy nguyền lên cõi Trời Đâu Xuất để gặp Phật Di Lặc học tu Duy Thức.

         Duy Thức là gì?

         Duy có nghĩa là còn lại, Thức là biết, sự hiểu biết từ bổn tâm. Khi Căn và Trần chạm nhau trong chỗ mắt thấy, tai nghe… mắt thấy tai rốt đã không còn hiện diện vì nó là ngoại giả cảnh, có sanh tất có diệt, nhưng thức là sự hiểu biết từ cái tâm, nó tồn tại, nên gọi là Duy Thức.

         Trong bộ luận này, Lục Căn cấu nhiểm với Lục Trần thành ra Lục Thức: nhản thức, nhỉ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức và cộng thêm hai thức nữa là Mạt Na Thức thứ bảy và A Lại Da Thức thứ tám. Sự hoạt động của Mạt Na Thức thứ bảy này là chấp trước, nhiễm trước và trung chuyển sự chấp trước này đến A Lại Da Thức thứ tám, công năng của thức thứ tám là chứa đựng những chủng tử thiện ác, tốt xấu, sạch nhơ. Vì là kho chứa tất cả chủng tử nên cũng gọi là “hàm tàng thức”.

         Chỗ chứa có những đồ không lành, không tốt đẹp, trong sạch, chỉ trách là Mạt Na Thức, đã không được tỉnh táo trong khi nhận và trung chuyển vào kho, để có thiện có ác dẫy đầy trong đó. 

         Đức Huỳnh Giáo Chủ có dạy qua Duy Thức học, đề tài nói về Căntrần Ngài kêu gọi môn nhân hãy thực thi quyền làm chủ của mình: “Diệt lục căn đừng nhiểm lục trần”. Lục Căn tức sáu món căn bản trong con người là mắt, tai, mủi, lưỡi, thân, ý. Mỗi một căn trong sáu căn đều có hành sự riêng như nhản căn với sắc trần, nhỉ căn với thinh trần. Người mà sáu căn không đầy đủ là nổi bất hạnh phải ôm chịu vì biết nó là quả báo đến từ cái nhân tiền kiếp, ăn ở chẳng ra gì, ví dụ như: Mắt không thấy sắc là mắt mù, tai không nghe âm thanh là tai điếc, mủi không ngửi được mùi là mủi bệnh, lưỡi không cảm giác hoặc thụt lưỡi, ăn không ngon nói không ra tiếng là lưỡi bệnh, thân không đi đứng được hay đi đứng khập khểnh vẹo ne, do bệnh hay do nghiệp trước mà căn tiền báo quả hậu chịu khổ, ý không biết, không ưa thích, không tỏ rõ sự tốt xấu, phải trái, chánh tà là vô ý thức, là ba lơn, khùng khịu. Trong lục căn chỉ mất một căn thôi, cứ đi hỏi khắp trần gian có ai mà chịu? không có sự tương quan tương tác của Căn và Trần cuộc sống khô khan, mất ý nghĩa.

         Con người sinh ra sáu căn đều tốt, sự hoạt động của mỗi căn với mỗi trần là thủy chung, gắn bó, nhưng xui vì gặp tai nạn đưa đến bất ngờ phải chịu hư mất một căn thôi người ta đau không  biết dường nào. Có người bị xui rủi như vậy họ mang mặc cảm suốt kiếp, chán đời, xa lánh bạn bè, sống không hạnh phúc như lúc trước. Chỉ mất một căn thôi người ta còn không chịu nổi với mặc cảm bị xấu huống chi Đức Thầy dạy phải diệt tới sáu căn lận “diệt lục căn” thì sao chứ?

         Kính thưa quý vị! Không thể lầm lẫn được, vì sau mệnh đề có chữ “ diệt” thì lại xuất hiện ngay một mệnh đề khác có tính tương tác “đừng nhiễm lục trần”. Cho thấy rằng, sự tương quan của lục căn và lục trần là rất cần thiết; có điều, căn là nguyên sinh trong mỗi con người chúng ta, ai có đầy đủ sáu căn, hoạt động tốt là phước phần hơn những ai đã thiếu nó. Là người tu, quý trọng và nâng niu việc tu tâm sửa tánh, đáng lẽ phải bỏ bớt những vì không cần thiết, không liên quan đến tiến trình tu là vứt ngay ra thùng rác, ta sử dụng lục căn ở nơi phù hợp là chảy gở những xúc sự để lúc nào cũng suôn lòng hòa nhập nếp tu lạc đạo an bần, đạm bạc rau tương của chúng ta hiện giờ. Quản lý căn cho có ảnh hưởng tốt đến tiến trình tu để đừng gây sự “nhiễm lục trần”.

         Thói quen xưa, căn và trần dắt dìu chạy búa xua vào tâm tư, đứng ngồi chần dần trong tâm tư, chúng lấn chiếm thời gian tu, thời giờ chỉ để dành cầu cúng Đức Phật. Chúng ta rất khó chịu khi đã muốn lúc nào cũng tu tiến mà bị nó chận đường, bày trò lục tặc cho cái tâm động đậy miết! Tan nát hết rồi mới hay. Những hậu quả sau chiến tranh của căn và trần chỉ còn là thảm hại thì ta nên biết mà tránh trước. Tránh không có nghĩa là chạy trốn sự thật, ta cứ sờ sờ ra đây mà đừng nhiễm lục trần thôi.

         Đức Thầy dạy “diệt lục căn” với ý nghĩa là không cho Nhiễm” lục trần. Đương nhiên, diệt không được dùng như tiêu diệt để trong con người không còn lục căn nữa, mà diệt có ý nghĩa Mắt thấy sắc không nhiễm sắc, tai nghe thinh không nhiễm thinh… Theo Ngài, lục trần mà để nhiễm rồi thì sự tu không còn ý nghĩa, sống gượng gạo trong cửa thiền môn, chờ chết.

                          “Nhản thấy sắc thường hay bận bịu,

                            Tai ưa nghe những điệu âm thinh.

                            Mắt với tai đều chọn đẹp xinh,

                            Còn lỗ mủi ưa mùi êm dịu.

                            Đồ thơm tho nó ưa nó chịu,

                            Chốn sạ hương hay lếch lại gần.

                            Lưỡi ưa ngon là chuyện ân cần,

                            Đồ ngọt béo nó ưa nó mến.

                            Thân tham sướng muốn tiền của đến,

                            Đặng ăn xài cho phỉ tấm tình.

                            Ý thì ưa sửa sắc soi hình,

                            Với chức phận cho cao cho quí.”

         Tác hại của sự nhiễm lục trần nói trên, hành trì để “đừng nhiễm” không có nghĩa nhất thiết phải rời xa, chạy trốn các duyên trần là đạt kết quả như một số người suy nghĩ. Chuyện sẽ không đơn giản như vậy đâu. Quý vị gặp một sắc đẹp mỹ miều khi cùng đi trên xe buổi hôm qua, lòng chao đảo, động đậy tưng bừng, nay về nhà là không còn gặp sắc đó nữa, theo như quý vị nghĩ là không động tâm về cuộc gặp gỡ hồi hôm qua mới phải! mà ai dè đâu, cái câu chuyện gặp gỡ hôm qua vẫn cứ ngự trị trong tâm thì việc bảo là trốn tránh, lánh xa sắc đẹp sao chắc là mình không còn động tâm về nó? Hiện diện không có cái hôm qua nữa, cũng như mình đang trốn tránh lánh xa mà có đạt được sự thanh tịnh của tâm hồn đâu!

         Căn và trần có những thao tác tương hợp trên một diễn cảnh để đẻ ra sự ưa thích, đắm đuối, nếu sự đắm đuối hằng sâu, thì những tuồng giễu mắt khác, kể cả lời khuyên dừng lại, kiềm hãm những ưa thích đều trở nên vô nghĩa. Vì sự ưa thích, đắm đuối đã chuyễn động đến thức thứ bảy mạt na thức và thức này liền lưu chuyển vào kho “hàm tàng thức”, thức thứ tám, có tên là A Lại Da Thức.

         Đức Thầy xác định quân phiền não đã vào hoạt động trong A Lại Da Thức “trong tâm ý” để khi đánh chúng, hễ ra đòn là ăn chắc:

                          “Sáu đường ấy ở trong tâm ý

                            Ta mau mau dứt nó cho rồi.

                            Nếu tỉnh tâm nào có mấy hồi,

                            Mượn trí đạo đuổi ra khỏi xác.

                            Dứt được nó ấy là giải thoát,

                            Thì xác trần mới khỏi đọa đày”.

         Kết thúc chiến tranh của căntrần ở hiện trường mắt thấy tai nghe, ngửi, nếm… bằng bỏ đạo, thôi tu đã có  rất nhiều trường hợp xảy ra. Chiến tranh tình cảm mà để đến “xáp lá cà” là phải chịu chết thôi. Cuộc gặp gỡ của mắt thấy tai nghe mà hai bên đều không bị gây thương tích là rất tốt, coi như một cuộc giải trí qua rồi thôi. Nhưng nếu, hai bên đối địch có xảy ra thương tích, ấn tượng sâu kín để hằng nhớ thì Mạt Na Thức có cơ hội xuất hiện chấp ngã chủ khách, ta và người, trung chuyển sự việc đi vào chỗ chứa A Lại Da Thức để mà săn sóc suốt sự nhớ nhung thương ghét.

         “Ý thì ưa sửa sắc soi hình…” Tu mà ưa sửa sắc soi hình thì như giặc đã chiếm tới thành nội, vào đồn “Ở trong tâm ý” chứ có còn ngoài biên cương nữa đâu mà định sắm trận hơn thua bên ngoài? Giặc vào trong tâm ý, cứ tìm đánh giặc bên ngoài hoài dễ đã trúng nó đâu mà yên giặc chứ?

         Sợ mấy cái người hay ca hát, tập tuồng ở gần nhà, gần chỗ tu. Nghe giọng nói của cô gái láng giềng nhẹ nhàng như hơi thở, tâm tư bị nghiếng đau, bỏ đi kiếm chỗ tu xa để đừng nghe những lời gì của cô ấy nữa. Bỏ đi xa tôi cho rằng ai cũng có thể, nhưng bảo phải không nghe cô ta nói năng gì là khó đấy. Nó đã vào trong tâm, dẫu chúng ta có đi nơi khác, hang động chùa chiền nào cũng có nó theo. Hồi sáng đi trên đường làng đất lồi lỏm chỏm, trời mưa nước đọng, có kẻ cắc cớ, ép mình rơi chân xuống vũng lầy, nước bùng chạc bắn tứ tung trên mình mẩy, họ không thương mà còn cười cợt. Giận mà chưởi đến no cả bữa ăn sáng, chiều về không còn cảnh tượng trơn trợt, không có tiếng cười mỉa mai như lúc sáng mà cũng nhớ để giận nữa thì sao?

         Xét lại đi! Trốn tránh như vậy có kết quả tốt không? Chúng ta luôn tự hào mình là người tu hành, mình tu hành tới đâu chính mình cũng chưa biết để có những phản ứng tự nhiên trong ứng sử thì làm gì người ngoài mình chịu ứng sử với mình như một người tu, hoặc lịch sự một chút cũng tốt. Ông nhà kế bên, mình thường phàn nàn Ông ta chẳng biết chút tu là gì, Ông ấy có hơi lấn ranh một chút mà mình chịu cũng không được, sân nộ lên thì mình cũng như Ông ta, có tu hành gì chứ? Chịu không được thì nảy sinh cái ý dời nhà. Nếu dời nhà là một giải pháp thì giải pháp này không hay ho lắm đâu. Tại sao ta không nghĩ mà dời cái tấm lòng mình cho dễ chịu đi chứ! Không dời lòng mà chỉ dời nhà, dời chỗ, thì coi chừng chạy ma gặp ông vãi, không có cái Ông lấn ranh mà có Ông hay trộm vặt, rượu chè nổi đình nổi đám suốt, hoàn cảnh còn tệ gắp hai lần cái Ông lấn ranh. Nếu chịu dời cái tấm lòng mình dễ hơn, thông thoán hơn thì đâu có tốn tiền tốn công mua đất dời nhà.

         Có một cô gái xứ quê, mùa hè trong nhà lúc trưa không khí hầm hầm, đầu cổ nặng nề khó chịu, lội ra vườn cây xanh sau hè nhà có gió đồng lất phất mát mẻ. Cô đi loanh quanh hết trong vườn cho thoáng rồi lại ngồi chòm hỏm dưới gốc cây lá rậm. vừa ngồi xuống là hực lên cái mùi phẩn muốn mửa, cô bỏ đó, đi lại dưới tàng cây khác mà ngồi, vừa ngồi thì cũng bị cái mùi đó ngấy lên, cô tiếp tục đến dưới cội cây khác nữa cũng ngửi phải cái mùi như thế. Hết sức kiên nhẫn cô lội riết vô nhà, đạp lên đôi dép để nất cầu thang dưới, bước lên nất cầu thang trên. Trong nhà giờ cũng lất phất cái mùi ô uế, thằng em trai nhỏ của cô đã phát hiện ra đôi dép của cô dính phẩn, còn ấn chút phẩn lên đôi dép của người khác, nó la dậy lên…

         Chân của mình dính phẩn mà cứ đổ thừa là đất chỗ nầy chỗ nọ làm oan tình cho những đất sạch sẽ của người ta. Cái chân dính phẩn thì đi đâu cũng hôi phẩn, cái tâm dính trần thì đi đâu cũng hôi mùi trần, tại mình hôi mà cứ đổ cho người ta hôi. Đến khi hết lại gần người ta để đổ thừa người ta hôi, về nhà ở riêng một mình mà cũng hôi thì phải biết cái hôi nầy là của ai? Cô gái xứ quê hãy đi chùi rửa đôi dép và gót chân của mình cho sạch thì hết hôi, nhà tu cũng nên chùi rửa cái sự dính trần của mình thì chắc chắn trên đường tu sẽ không bị mùi trần làm cảm nhiễm nữa.

                          “Sáu đường ấy ở trong tâm ý,

                            Ta mau mau dứt nó cho rồi.”

         Kính thưa quý vị! Sáu tên giặc trần mà mình muốn đánh muốn “dứt nó cho rồi” Đức Thầy xác định nó đã vào trong tâm ý của mình, vậy thì đừng tốn công vô ích đi tìm nó bên ngoài, lúc A Lại Da Thức (kho chứa) mở ra  thì sáu tên giặc trần trồi đầu, lo đó mà tóm cổ từng tên đuổi đi, không chứa trong kho A Lai Da nữa.

         Chỉ biết khoe cái công tu lâu năm mà hễ đánh đâu là thua đó, làm đâu hại đó. Tại sao? Tại sao ta không nhìn thẳng vào chính ta để thấy rằng ta thật là yếu ớt khi đụng ngoại cảnh mà học hỏi, bồi bổ những kiến thức của các nhà chuyên môn hơn mình cho mạnh lên? Kiếm đường chạy trốn, thua trận mà còn đề cao sự chạy trốn là giải pháp hay. Quý vị biết, yếu ớt mà chọn ở tu có một mình đấy có thể là sự tính toán sai, tu một mình là hẹn đọ sức một chọi một với  phiền não ở nơi thanh vắng, chứ sao nữa? Hãy để những huynh đệ thuộc hạng hảo hán, chúng ta chưa có thể đọ sức một với lục tặc, đi một mình lở thua trận cũng không ai hay mà tiếp cứu, coi chừng là “cúng gỏi” cho nó nuốt xác sớm hơn. Hãy bồi bổ sự yếu ớt của ta trước đã!

                          “Nếu tỉnh tâm nào có mấy hồi,

                            Mượn trí đạo đuổi ra khỏi xác,

                            Dứt được nó ấy là giải thoát,

                            Thì xác trần mới khỏi đọa đày.”

         Dám hỏi xem mình đã tỉnh tâmtrí đạo sẵn có chưa để hoàn thành cái việc “mượn trí đạo đuổi ra khỏi xác”? Chưa có thì phải rán tu cho có.

         Kính thưa chư quý vị! Không biết khoảng thời gian mà quý vị đã dành để đến với tôi là nhiều hay ít. Đức Thầy bảo:

         “Chuyện cao siêu phật pháp còn dài” chỉ có sức hiểu biết của chúng ta là ngắn thôi. Tôi xin tạm dừng buổi nói chuyện để chúng ta cùng dùng bữa vì ban khói lửa đã đợi chúng ta.

         Kính chúc quý vị bồ đề tâm tinh tấn.

         Nam Mô Bổn Sư Thích ca Mâu Ni Phật.

         Nam Mô A Di Đà Phật.

         29/6/2013

         Lê Minh Triết

         (Viết lại cuộc gặp gỡ)


Comments