2013/01/01 - MÙA ĐÔNG CÓ NHIỀU NHẮC NHỞ

MÙA ĐÔNG CÓ NHIỀU NHẮC NHỞ

        Qua rồi một mùa lá vàng rơi, ngoài kia gió Trời không chỉ “lai rai thổi” mà là cuồn cuộn kéo về làm inh tai trên cành cây cao bóng mát trước sau hè. Một sáng không có ánh mặt trời, tôi liên tưởng đến câu thơ của một nhà thơ đáng yêu nào đó diễn tả cái lạnh của buổi chiều tà: “Hôm nay lạnh, mặt Trời đi ngủ sớm”. Với hiện giờ, chuyện của nhà thơ năm xưa là chuyện cũ, chiếc đồng hồ đã chỉ điểm 8 giờ sáng mà chưa thấy mặt Trời đâu, liệu Ông Thi Sĩ có nên đặt thơ nữa cho biết cái lạnh của buổi sáng không thấy mặt Trời chăng? “Hôm nay lạnh nên mặt Trời thức trễ” chứ ạ! Có thể do mặt Trời còn ngây ngủ, mấy chú chim chìa vôi không dậy mà lảnh lót cái giọng Chệt chìm tàu. Các chú gan thật, tôi thấy treo ổ khơi khơi ngoài những nhánh nhóc mềm nhũng như ghẹo gió mùa đông, chắc gió đã hốt nhà của chú vụt xuống, con lớn con bé chết dập đầu, thất kinh hồn vía, chưa biết các chú đang ở trong bộng cây nào lánh nạn.

         Không biết từ bao giờ, tôi ghiền nghe các chú hát vào mỗi buổi sáng, chiều trước khi lên đèn chú cũng hát nhưng giọng chiều hoàng hôn không êm ả “Ly Tao” như buổi rạng đông. Trời lạnh giá nhìn những tổ chim rơi rụng trước sân tôi nghe lòng thương thương. Ấy vậy mà vài sáng sau các chú cũng cười rân trên tàng cây Mít bên hông nhà, chúng cất nhanh hai cái tổ mới, hát cũng vẫn hay, không chút sượng giọng. Các chú đã đẩy cái quá khứ không may đó đi biệt tích, còn lại là sự bình an của tâm hồn, của cuộc sống vui tươi sinh động. Tôi rất là ngưỡng mộ khi đã hiểu ra, ai mà không có quá khứ của những sự thua thiệt buồn đau nhưng tệ là ta không đẩy nó đi biệt tích cho còn lại là sự bình an của tâm hồn mà vui tươi cuộc sống.

         Sự lạnh lẽo của mùa gió bấc, tôi chợt nhớ Đức Thầy và bài “Thu Đã Cuối”, Ngài đã sáng tác trong cái lạnh mùa đông mà tuồng đời khôn tả đã khiến xui Ngài làm bệnh nhân trong Nhà Thương Chợ Quán để một mình “Phòng Vắng Đêm Khuya” cất giọng vang lên:

                          “Vận thời luân chuyển đưa ta tới,
                           Tới chốn nhà thương dưỡng bệnh điên.
                           Lắt lẻo Hóa công bày tấn kịch,
                           Chia xa bổn đạo xuất mộng phiền.”

         Ngoài trời chỉ mới “Bấc lai rai thổi” thì Ngài đã bị quân chinh phạt Pháp đưa đi an trí trong một nhà thương điên. Lòng chư môn đồ xót dạ cho sự trớ trêu này, nhưng Đức Thầy, bệnh nhân của Nhà Thương ấy thật là ung dung tự tại. Ngài thố lộ tâm tư để chia sẻ cùng lương dân bá tánh:

                          “Càng đi càng biết nhiều nơi,
                   Càng đem chơn lý tuyệt vời phổ thông.”

         Nghe Đức Thầy tỏ rõ thái độ trên trước, tín đồ cũng theo đó mà mạnh thêm ý chí, tin tưởng và chờ xem kết quả của cái “Tuyệt Vời Phổ Thông” Ngài nói là như thế nào. Người ta theo dõi cuộc viễn du của Đức Thầy, dù nhà cầm quyền Pháp làm chủ tình hình lưu đày vị Giáo Chủ cho niềm tin Tôn Giáo đối với những tín đồ nhẹ dạ, nhìn hiện tại mà đoán tương lai sẽ không vượt qua thách thức là bỏ cuộc thi triển lòng gan dạ sắt “Một đời một đạo đến ngày chung thân” số nhẹ dạ là không mấy người. Bị đưa đi từ Làng Nhơn Nghĩa (Xà No) đến Nhà Thương Chợ Quán, ở suốt thu đông chẳng mặt Ông Thầy thuốc nào dám coi Ngài có bệnh mà trị. Ngài sáng tác rất nhiều thi bài gởi ra cho bổn đạo: “Ai Người Tri Kỷ, Sắp Màn Cảnh Trí, Hiến Thân Sãi Khó, Bóng Hồng, Phòng Vắng Đêm Khuya, Gởi Về Cho Bổn Đạo, Nghĩ Những Ngày Qua, Không Buồn Ngủ, Thu Đã Cuối, Đêm Ngồi Một Mình, Mười Bốn Tháng mười, Than Đời, Trao Lời Cùng Ông Táo, Tự Thán, Tỉnh Bạn Trần Gian, Đức Thầy Gởi Ông Mười, Mượn Cây Đuốc Huệ”.

         Đến Nhà Thương Chợ Quán, trước hơn hết Ngài viết bài “Ai Người Tri Kỷ” vào đêm 18/7 Canh Thìn như báo trước sự vắng mặt dài lâu của Ngài. Để gợi thương gợi nhớ trong lòng người tín đồ, nếu là “Tri Kỷ” thì dẩu có xa cách mà tâm tư vẫn nhớ về nhau, đời người có bị hoàn cảnh phải lưu viễn đẩy đưa đến cùng trời cuối đất mà muốn gặp lại thì hãy để nằm lòng lời dạy “Tích Đức chờ ta chốn hẹn hò”. Bài cuối là “Mượn Cây Đuốc Huệ” viết vào những ngày tháng hết năm. Loạt bài ở Nhà Thương Chợ Quán nội dung khuyến tu, giáo lý sâu sắc, thật đúng với lời tiên đoán:

                                  “Càng đi càng biết nhiều nơi,

                          Càng đem chơn lý tuyệt vời phổ thông.”

         Mùa đông giá rét, thân trong nhà thương mà như ở thư phòng, bên bàn viết gởi lời tâm sự:

                          “Kể đến lúc băng ngàn đất khách,
                           Đem thân này cắt mạch sầu đông.
                                  Dầu ai trao đổi lạt nồng,
                      Trao chua chế ngọt tấm lòng chẳng nao.”

         Nơi đất khách trong hoàn cảnh một bệnh nhân phải chịu sự chi phối bởi nội qui của bệnh viện, của Pháp tặc. Mùa đông lạnh càng thêm lạnh mà lòng thương chúng của Bậc Siêu Nhân vẫn được hâm nóng trong mọi hoàn cảnh trái ngang:

                          “Ước sao mình như Cuội trên trăng,
                           Đặng soi khắp cả dương trần,
                           Cho người trong tối đặng lằn điển quang.”

         Thương đời như vậy, dầu có ai cắc cớ đem lạt (lợt) đổi nồng, trao chế những điều chua hay ngọt áp đặt lên Ngài, thì Ngài vẫn một mực thương:

                                  “Thương đời tả ít lời thơ,
                             Nẻo tu dân sự còn chờ dịp nao.”

         Và:

                          “Thương quá sức nên ta bịn rịn,
                           Quyết độ đời cho đến chung thân.
                           Nếu thế gian còn chốn mê tân,
                           Thì ta chẳng an vui Cực Lạc.”

         Năm nay cũng vào năm Thìn, con rồng lộn lại gần ngót một năm. Tôi đang ở những ngày tháng cuối năm, mấy hôm qua tiết lạnh, màu vẻ mịt mờ, mặt trời dường cũng sợ lạnh mà không dám đi hiên ngang trên đỉnh đầu hành trình về phía Tây. Đi nép một bên. Nhà tôi trong xóm vắng quang cảnh đìu hiu mà gió thì lúc nào cũng được mùa thổi kèn trên những tàu chuối mô cao. Hôm nay Trời không nung nóng, phải chăng vì tuổi già dở lạnh, giữa trưa trong nhà tôi vẫn trùm khăn lông che kín đầu cổ để đọc cho nốt bài “Thu Đã Cuối”. Lạnh bốn hướng châu đầu, buốt lên từ trong gió, bất kể năm xưa có lần tôi lên Đà Lạt nhằm độ mưa dai dẳng. Vườn hoa Đà Lạt thưa khách, Đồi Thông Hai Mộ chẳng mấy ai đến đó để nghe tiếng Thông reo, hay gởi vài lời tâm sự bên những nấm mồ tình tứ lãng mạn mà đọ độ lạnh  “Cắt Mạch Sầu Đông” của năm Canh Thìn 1940 trong một bệnh viện chỉ dành riêng cho người điên. Tôi cảm nhận “Thu đã cuối bấc lai rai thổi” mà lạnh đến “Cắt Mạch sầu đông” xưa thì nay, sau 65 năm vắng Thầy lòng người tín đồ có bao nhiêu là giá buốt?

         Trước lúc ra đi Đức Thầy đã kêu giục lòng giác ngộ của tín đồ:

                          “Từ nay cách biệt xa ngàn,
                  Ai người tâm đạo đừng toan phụ Thầy.”

Có báo trước năm Thầy về là năm Thìn:

                          “Bắc Nam chờ đợi cuối Thìn,
                    Sẽ lo vận chuyển thân hình xác ta.”

         Từ độ Thầy tớ biệt nhau đã trải qua nhiều năm Thìn mà chưa có sự “vận chuyễn thân hình xác ta”.

         Con Rồng năm nay, như có sự đánh động lương tâm của nhân loại trên quả địa cầu, xuất hiện hàng loạt các nhà tiên tri có chung cái nhìn con rồng này không đơn giản như những con rồng bay qua, nó sẽ quậy hoạn va chạm khủng khiếp rung rinh bầu vũ trụ. Một số nhà tiên tri có sức ảnh hưởng lớn trong nhân gian, qua kết quả nghiên cứu đã có cùng một nhận định Thìn này, 2012 sẽ có những biến đổi lớn trên quả địa cầu, sự biến đổi, cho dù là trẻ thơ sẽ không còn tồn tại theo chu kỳ chết già.

         Xin trích:

         - Lịch của người Maya:

         “Cách nay hơn năm nghìn năm, người Maya tiên đoán, giống như vạn vật, thế giới loài người cũng hoạt động theo một chu kỳ, nghĩa là có khởi đầu thì sẽ có kết thúc, và điểm kết thúc của loài người là ngày 21/12/2012, ngày cuối cùng của chu trình lịch thứ 13 kỷ thứ IV trong bộ lịch long-count của họ.

         - Trích phán xét trong Kinh Thánh:

         Cuốn sách bán chạy nhất thế giới “Mật Mã Kinh Thánh” của M. Drosnin là Thiên Chúa sẽ hủy diệt trái đất vào năm 2012.

         - Lời tiên đoán từ Kinh Dịch:

Nhà nghiên cứu T. Mckenna tin rằng, kinh dịch biểu diễn dòng chảy thời gian… các điểm lồi lõm của “Sóng thời gian” xuất hiện lập đi lập lại, tuy nhiên tầng số của chúng tăng dần chứ không thể cố định. Dựa trên các phân tích đó Mckenna đưa ra giả thuyết về ngày kết thúc của thế giới là 22/12/2012, chậm hơn một ngày so với dự đoán của người Maya.”

         Trong Sấm Giảng Thi Văn Giáo Lý Phật Giáo Hòa Hảo, Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng có đề cập đến năm Thìn, không nói là cơ tận diệt kết thúc sự sống của nhơn loại trên quả địa cầu mà chỉ báo tin sự trở về. Ngài dặn với tín đồ trước lúc ra đi:

                          “Từ nay cách biệt xa ngàn,
                  Ai người tâm đạo đừng toan phụ Thầy.”

Và chừng Ngài trở lại là cuối năm Thìn:

                          “Bắc Nam chờ đợi cuối Thìn,
                    Sẽ lo vận chuyển thân hình xác ta.”

         Tôi không mong có ngày tận thế, không suy nghĩ nhiều về những tiên tri có kết thúc sự sống nhân loại ở cuối năm 2012. sự chết chóc của cuộc biến di thương hải, dầu sao thì những tai nạn khủng khiếp xảy đến cho nhân sanh không nên coi là chuyện vui sướng gì mà mơ mơ mộng mộng. Người tín đồ nhà Phật, đọc Kinh, Niệm Phât, cầu nguyện hằng ngày hằng thời đều hướng đến sự tốt đẹp của tâm hồn và sự tốt đẹp đến với tất cả chúng sinh.     Chẳng phải người tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo đã thường nguyện vái “Nam Mô Tây Phương Cực Lạc thế giới đại từ đại bi phổ độ chúng sanh A Di Đà Phật” đó sao! Nên dặn với lòng: Hãy rửa sạch trần tâm để cho tâm phát sinh trí huệ và rửa sạch trần tâm những thứ gì làm cho tâm không chiếu diệu Từ Bi.

         Nhưng việc Đức Thầy trở gót, khó có một đồng đạo nào vô tình vô cảm với sự ra đi và trở lại của Đức Thầy, nhất là sự trở lại đã đem về cho PGHH “Bóng Tùng Phủ Che”. Trước lúc Ngài ra đi thì “Trăng còn khi tở khi lu”, nhưng đến lượt trở về thì sáng rực lên “Chờ ta trở lại thì đèn hết lu”. Vậy hãy nhất tâm mà chờ Ngài đi! Chờ Ngài thì phải theo lời dặn:

                          “Phật Đạo trau giồi tâm tánh lại,

                           Giác thuyền chuyên chở lúc can qua.”

Sự nhắc chừng của Đức Thầy “Bắc Nam chờ đợi cuối Thìn, sẽ lo vận chuyển thân hình xác ta” tôi có cảm nhận Đức Thầy “Diệu Độ” bá gia thiện tín cho trong lòng họ luôn có Đức Phật và đạo Phật ở một vị trí đặc biệt trong sự sinh tồn. Nghĩ đến cuộc trùng phùng của Thầy Tớ họ phải Niệm Phật và nghĩ đến “Bóng Tùng Phủ Che” thì tính chất đạo đức đã có ngay trong tâm người ta rồi.

         Trong khi còn chờ đợi đấng Đại Đạo Sư trở gót, ta phải làm gì đó tốt hơn để đón rước Ngài mà không thẹn mặt với bất cứ đồng đạo nào đã đến mừng Thầy. Hãy làm theo những điều Thầy dặn trước lúc ra đi. Không làm tốt bản thân, xuôi tay cho ba nghiệp dữ hoành hành, tam độc: Tham, Sân, Si đè đầu cởi cổ mà chờ đợi cái ngày “Cuối Thìn” chi vậy?, Đức Phật dạy đạo là muốn chúng sanh thành Phật, tu mà không hướng đến sự thành Phật hay Vãng Sanh Tây Phương mà thành cái gì gì đó là chưa trúng mục tiêu của Phật đề ra. Đức Thầy cũng đã căn dặn tín đồ:

                          “Tu cho qua cửa Diêm phù,
                    Khỏi sa địa ngục ngao du Tiên Đài.”

Nếu PGHH có những tín đồ thuần tu giồi mài trí tuệ, mở rộng Từ Bi, trong tục mà thoát tục, trong mê mà không mê. Phạm Ngũ Lão ngồi đan sọt còn lo được việc nước, ai bảo chúng ta không tu được trong khi tay chân đang làm lụng việc gì? Lục Dục, Thất Tình có đưa quân đi gây mê để chiếm thành trì, cướp nước,  mà trong lòng mình đã hết mê họ muốn cướp cũng không được.

         Hãy xăn tay áo nhảy vào cuộc, cái tâm không có một chút đạo mà đòi tu đắc đạo thì ăn nhằm gì chứ! hãy kiểm điểm lại cái đạo tâm của mình đi! Có chứa đựng nội dung sâu lắng về Phật Pháp, có tinh tấn chảy gở những súc sự trần ai cho suôn lòng với đạo hay rỗng tuếch… xem mỗi ngày mấy lúc mình được “Phật đạo trau giồi tâm tánh lại” hả? Nhớ mong nhiều cũng chỉ làm rối lên lòng thương cảm, tu niệm không minh tâm kiến tánh. Ta hãy làm theo lời Thầy dạy hơn là nhớ suôn về Ngài.

         01/01/2013

        Lê Minh Triết

Comments