2012/06/24 - NHỚ THƯƠNG NGƯỜI TỐT

NHỚ THƯƠNG NGƯỜI TỐT

         Lúc tôi bị đi tù lần thứ nhất 1976 tức sau biến cố chính trị 30/04/1975, đất nước Việt Nam thay đổi chủ mới một năm, tình hình khó khăn về mặt an ninh, ngay trong thời điểm quân chiến thắng trả thù trả oán quân bại trận, kẻ đi tù người bị giết chết. Dân nào trịch một chút là gán cho nó cái tội “Ngụy Quân, Ngụy Quyền” hay còn “Đầu Óc Mỹ Ngụy” để mà trù dập cho đừng ai dám lên tiếng chỉ trích hay có thái độ bất hảo với chánh quyền mới lên ngôi.

         Trong tình làng nghĩa xóm, trước mắt thấy có người bị chánh quyền ức hiếp, tính ngay thẳng mà gặp người ta hành động cong queo, giận no trong bụng, thương người bị hại lòng đau như cắt ruột mà không dám vào cuộc can thiệp hay xin tha. Những người có làm việc trong chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa đã bị lùa hết đi học tập, cải tạo. Sĩ quan thì đi tù xa quê hương, còn binh lính, quan làng là tùy theo cách tổ chức của chánh quyền cho đi tù trong tỉnh huyện nhà, hay học tập ở xã ấp. Thân phụ tôi Hội Trưởng Ban Trị Sự Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo địa phương, thấy mấy em cháu bị cải tạo thiếu ăn thiếu uống, nước xài, cho người chỡ nước đến cũng bị bắt lại và cảnh cáo, nếu còn tái phạm sẽ bị xử theo luật, bắt Ông học tập thêm mặc dù Ông đã học rồi.

         Nhưng, trường hợp của tôi có được Ông Bà đại ân nhân Lê Văn Lĩnh, Đỗ Thị Hàng dám xông vào cuộc đãi cơm cho một tên tù đang bị giam giữ… một việc làm đầy gan dạ ai nghe cũng phát sợ.

         Tháng 5/1976 tôi bị chánh quyền công an xã Tân Huề bắt giam giữ 3 ngày đêm rồi giải tù xa lên nhà giam huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, lý do bị bắt rất là đơn giản.

         Việt Nam do chiến tranh nội bộ mà chia đôi đất nước bởi hiệp định Geneve: Việt Cộng có một nửa giang san ở phía Bắc, còn phân nửa về Nam là bờ cõi của Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng phía Bắc không chịu ở yên trên lãnh thổ của mình, khởi mộng xâm lăng vào Nam đánh cướp chánh quyền. Từ đó chiến tranh huynh đệ tương tàn kéo dài cho đến 30/04/1975 quân xâm lăng toàn thắng thống nhất hai miền đất nước, dựng lên một triều đại Cộng Sản với cái tên dài lược phược “NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM”.

         Hại thay! Nhà nước mới lên với chủ trương “Tam Vô” mà một trong tam vô là vô tôn giáo. Không chấp nhận sự có mặt của bất cứ tôn giáo nào trong quốc gia họ đang trị vì thiên hạ. Ra lệnh giải tán các Ban Trị Sự Giáo Hội Tôn Giáo. Tôi là nhà tu, tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo dưới thời Đệ Nhứt, Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa, đứng trước cảnh chánh quyền Việt Cộng tiêu diệt tôn giáo, tịch thu các thứ tài sản của giáo hội, đạo bị cấm hoạt động, lòng không chịu nổi sự xúc phạm tôn giáo của chánh quyền Việt Cộng nên đã 3 lần vào tù. Những tín đồ nặng lòng lo cho đạo không cúi đầu trước khó khăn để rồi “đổ thừa cho số phận” đạo đến đây kết thúc. Phải gượng đau vùng vẫy cho PGHH có những sinh hoạt mới tồn tại và phát triển. Cổ nhân bảo “Cùng tắc biến, biến tắc thông” có thể là một quy luật hỗ trợ cho những chính nhân quân tử khi đã cùng đường thì phải biến hóa mới đạt thong dong tự tại. Khổ nổi! nhiều hộ gia đình quá sợ, bị bản sơ yếu lý lịch, thậm chí đến cái thẻ cử tri của những người có đạo PGHH cũng đề là tôn giáo: Không.

         Hay thiệt! Việt cộng mới lên nắm chính quyền một năm thôi, qua vài thử thách, thách thức: Đất đay bị lấy làm Nông Trường, mua dầu thắp đèn, xay lúa gạo ăn, mua vải may mặc, mua đinh, dây chì… các thứ phải đem theo cái sổ gia đình, còn ai “hơi cứng” về tôn giáo sẽ bị khiển trách la rầy là mê tín dị đoan.

         Đức Huỳnh Giáo Chủ sáng tác phẩm kinh với tựa đề là “Khuyến Thiện” thì chủ nghĩa cộng sản cũng đã len lỏi vào Việt Nam với thuyết “Duy Vật Biện Chứng” của Các-Mác:

                          “Thêm thời này thế kỷ hai mươi,

                           Cố xô sệp Thần quyền cho hết.

                           Người nhẹ dạ nghe qua mê-mết,

                           Rằng: nên dùng sức mạnh cạnh-tranh.

                           Được lợi-quyền lại được vang danh,

                           Bài-xích kẻ tu hành tác phước.”

                                                                     (Quyển 5,  Khuyến Thiện)

         Viết bài “Luận về Bát Chánh Đạo” mục Chánh Tinh-Tấn, Đức Thầy Viết: “Phái vô-thần-luận thường cho rằng thân xác tức là con người. Thân còn tức người còn, thân mất người mất. Không có Thánh, Thần, Trời, Phật, không quả-báo luân-hồi; cũng chẳng có tội, có phước, có vía, có hồn. Đời là thân xác con người, sống là tranh đấu, mạnh được yếu thua. Thế nên biết bao nhiêu mánh-khóe gian-hùng, bao nhiêu ngón điêu-ngoa xảo-trá, bao nhiêu tàn bạo ngược-ngang đều được đem ra dùng cả thảy”.

         Cho đến từ sau 30/4/1975 cái thuyết Duy Vật Biện Chứng của Các-Mác, của “Phái Vô Thần Luận” hoạt động công khai trên quyền lực quốc gia. Đức Thầy hạ bút những câu đầy cảm xúc:

                          “Dầu ai có bền gan sắt-đá,

                           Cũng động lòng trước cảnh ngửa-nghiêng.

                           Đạo diệu-mầu gặp lúc truân-chuyên,

                           Phận môn-đệ phải lo vun quén.

                           Tầm sức nhỏ còn làm nên kén,

                           Người không lo có thẹn hay chăng ?

                           Cả tiếng kêu cùng khắp chư Tăng,

                           Với tín-nữ thiện-nam Phật-Giáo.

                           Nên cố-gắng trau thân gìn Đạo,

                           Hiệp cùng nhau truyền-bá kinh lành.

                           Làm cho đời hiểu rõ thinh-danh,

                           Công-đức Phật từ-bi vô lượng.”

                                                                     (Quyển 5,  Khuyến Thiện)

         Trước phái vô thần cường bạo phủ nhận Thánh, Thần, Trời, Phật, chống thuyết quả báo luân hồi, “sống là tranh đấu, mạnh được yếu thua”. Mang cái tâm hiếu chiến, nên lúc nào họ cũng bằng mọi cách, điêu ngoa xảo trá, tàn bạo ngược ngang đủ mạnh để thắng, không yếu ớt cho thua. Tôn Giáo PGHH vẫn hoạt động không ngừng với những mô hình mới, lòn lỏi chia thành từng đoàn nhóm, bố trí các nơi, hướng dẫn, khuyến khích sự tu hành. Tổ chức im lìm những cuộc hội luận đạo pháp chuyền tai. Cường quyền giải tán các Ban Trị Sự Giáo Hội, tịch thu các cơ sở của đạo tưởng vậy đã mạnh, nhưng “mạnh” mà không “được”, cứ coi PGHH ở thế yếu nhưng “yếu” mà không “thua”.

         Bị giải tán, cấm hoạt động tôn giáo, chúng tôi âm thầm tổ chức nhiều nhóm nhỏ học giáo lý và đồng tu, nhập thất qua hình thức của những căn trại làm vườn vắng vẻ, xa xóm. Đầu năm 1976, tôi đến vùng giồng Tân Bình Hạ, xã Tân Huề, gầy dựng một nhóm trẻ tu học trong những căn trại giữ vườn chuối, vườn ổi, vườn xoài. Tôi đến và đi trong cẩn thận để không bị phát hiện bởi một nhà nước không ưa tôn giáo.

         Tôi ở năm hôm cùng huynh đệ tu học cho đến chiều rằm tháng 5/1976 trên đường về nhà huyện Chợ Mới, tôi bị tên bảy Nghịch công an xã Tân Huề chận hỏi tôi từ đâu tới, tôi đáp ở xã Kiến An, huyện Chợ Mới. Nghịch nói: Vậy là ở khác tỉnh, cho coi giấy phép đi đường. Tôi trả lời là không có giấy đó. Nghịch mời tôi về văn phòng công an xã Tân Huề, tống giam tôi trong cái buồng hết sức là nồng nặc mùi dơ dáy nhưng có ông Thiếu Úy sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa ở sẵn. Được biết tên Thiếu Úy này đơn vị hoạt động miền xa, 30/04/1975 Ông Tổng Thống Dương Văn Minh mới nhậm chức có mấy giờ đồng hồ đã truyền lệnh, kêu binh sĩ buông súng đầu hàng. Thiếu Úy buông súng thì buông, nhưng biết trước chuyện gì sẽ xảy ra, Ông ta tránh gặp sự khó dễ của quân chiến thắng mà trốn ở xứ lạ, giả dạng thường dân cần cù lam lũ để qua mắt sự đánh hơi của làng chức mà tiếp tục theo dõi diễn biến của đất nước để may ra có làm được việc gì… không về địa phương trình diện đi tù cải tạo.

         Chúng tôi bị nhốt phía sau vách của Ủy Ban Nhân Dân xã, bốn bên bít bùng, phòng nhốt tương đối rộng mà có 2 người, Thiếu Úy ở góc kia tôi góc này, quân canh cấm không cho chúng tôi tiếp chuyện.

         Lúc tôi bị bắt dẫn đi nhiều người thấy và hay tin đồn ra, nhóm học đạo tu hành trong những căn trại giữ vườn ở giồng Tân Bình Hạ đã hay và tất cả đều đề phòng, đem giấu cất hết Kinh Sấm, sách vở nói về PGHH để lỡ bị khám xét không có chứng tích buộc tội ngoan cố theo đạo.

         Chiều xuống gần tối, có một Ông già cận chợ Tân Hưng, tín đồ PGHH, ở đời rất tốt bụng về tình làng nghĩa xóm, có uy tín với chánh quyền về việc từ thiện, đến văn phòng công an xin được lãnh tôi về nhà Ông dùng cơm xong thì đưa trở lại. Ông giải thích: Tôi chưa một lần quen biết với người bị bắt, tôi không đề cập đến chuyện Ông bị bắt về tội gì, chỉ vì lòng thương hại người lỡ bước đói cơm mà giúp như một việc làm từ thiện.

         Xã đội trưởng bấy giờ là Ba Ngon, đồng ý lời yêu cầu của Ông già: Bác tư Lê Văn Lĩnh chịu 3 ngày liên tiếp trưa chiều nào bác cũng lại nhà giam lãnh tôi đi, trả tôi lại. Bác gái Đỗ Thị Hàng nấu chay ngon lắm, mời ăn thật lòng. Hai Bác còn chu đáo đến đổi, muốn cho tôi được tắm giặt sạch sẽ mỗi ngày mà sợ mất thời gian lâu thì quân canh đến kêu thúc, nóng nảy, phiền lòng. Trước khi đến nhà giam lãnh tôi về bác đã cho chuẩn bị trong nhà tắm có đủ thứ: Nước, xà phòng, khăn lau, dẫn tôi về tới thì bác kêu tôi vô tắm ngay. Xong ra thì cơm đã dọn sẵn trên bàn tôi liền dùng cho kịp. Lần đầu thấy tôi đi ăn lâu chưa trở lại, 2 tên lính canh đến trước đường nhà dòm vô. Tục ngữ Việt Nam có câu “Trời đánh tránh bửa ăn” nên họ không dám làm cái chuyện ngoài ý Trời.

         Hôm sau đến với bưa ăn trưa, có ra một câu chuyện đẹp tuyệt vời: Bác ngồi trò chuyện cho tôi dùng ngon miệng, đừng ngại mình là kẻ xa lạ. Bác hỏi tôi họ gì tôi trả lời là tôi họ Lê, bác rất vui và nói: Tôi cũng họ Lê nữa, cùng họ là bà con, biết đâu chừng mình là bà con từ đời Ông Cố, Ông Sơ do sinh kế hay chiến tranh thất lạc. Tôi quá cảm động đến đổi tôi không dám nhìn Bác để trông Ông già ngay lúc đó đẹp đẽ như thế nào mà nói một câu đầy tính phù hộ cho tôi. Tôi sợ Bác thấy tôi cũng muốn rưng nước mắt…

         Để tìm hiểu thêm tấm lòng vì đời thương người của Bác, sau này tôi còn biết được về Bác từ người khác nói cho nghe: Con đường đất đê cao từ chợ Tân Hưng vào giồng Tân Bình Hạ là do bác hiến hết chiều dài của một thửa đất quý vít quăng lên, để từ đó hằng năm tới mùa mưa lũ nhân dân trong giồng Tân Bình Hạ không phải xăn quần xách dép mà lội nước, sình, suốt gần cây số ra chợ.

         Dùng bữa trưa của ngày thứ 3, không biết đằng xã xảy ra chuyện gì mà quân canh đến chờm hờm muốn lôi tôi về nhà giam. Buổi chiều hôm đó tôi bị điều tra suốt. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng khó khăn này là do lão tám Gia, lão Chín Tước, Ông trưởng Ông phó ban nhân dân ấp Kiến Hòa Thượng, xã Kiến An quê tôi. Theo yêu cầu của chánh quyền xã Tân Huề, nếu được chánh quyền địa phương tôi xác nhận nhân khẩu thường trú và là một công dân bình thường thì họ sẽ thả tôi, nhưng 2 cái lão tám Gia, chín Tước chỉ xác nhận thường trú của tôi bằng mấy chữ trên tờ giấy: Lê Minh Triết thuộc thành phần liêu tiêu, đi núi, đi hòn, không kiểm sát được.

         Hại người kiểu đó ư?

         Thật sự thì tôi ở tu ngoài Hòn Tre trước 30/04/1975 cho đến sau ngày “Đứt phim” khoảng 1 tháng, lúc còn ban quân quản, tôi đã bị một trận bệnh rất nặng phải chở đi Rạch Giá nằm viện, chuyện đó cũng không mắc mớ vì 2 Ông mà đi báo hại người ta và còn có thể, nếu 2 Ông tôn vinh chủ nghĩa Cộng sản thì nên thông cảm vì người tu đâu có Đả Cộng. Sau hết bệnh trở về Hòn không được, vì hồi ra đó tu ai mà biết sau này có chánh quyền cộng sản vầy đâu, để cần phải nhập hộ khẩu thường trú cho hợp lệ đừng ai đuổi.

         Sáng sớm ngày thứ tư tôi bị giải lên tù huyện với một sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa, tôi và Ông bị còng liền trong những khoen dây xích ngay trước khi lên xe. Sau một tháng đi tù tại trại tù huyện Thanh Bình tôi được thả ra, có đến thăm Ông Bà ân nhân, sức khỏe Ông Bà rất tốt. Năm 1985 tôi bị vô tù lần 2 cũng trên chuyến đi công tác Phật Sự, tìm hiểu sự thật những hành giả với phương hướng Niệm Phật cầu về Tịnh Độ có tiếng đồn Vãng Sanh để sau này viết thành tập phổ biến, khích lệ môn tu. Cũng một tháng tù ở B4 An Giang thì được thả ra, sau đó khoảng thời gian không lâu tôi có đến thăm 2 Bác Lê Văn Lĩnh, Đổ Thị Hàng thấy sức khỏe của 2 Bác mỗi lúc già kém, nhất là Bác trai gầy đi rất nhiều nhưng nụ cười trên môi Bác thì không gầy không già, lúc nào cũng cười với giọng điệu tươi trẻ. Đến 30/03/1994 tôi bị tù lần thứ 3 do đấu tranh đòi hỏi quyền tự do tôn giáo cho PGHH án phạt 8 năm chung đủ. Khi người tù hai thế kỷ, hai thiên niên kỷ này về thì nghe tin Bác ân nhân đã không còn trên cõi đời này nữa.

         Tôi thật tiếc thương.

         24/06/2012

        Lê Minh Triết
 
Comments