2011/12/27 - LÀM ĐẠO và CHUYÊN TU

LÀM ĐẠO và CHUYÊN TU

         Quý vị từ tỉnh Tiền Giang về THÁNH ĐỊA HÒA HẢO dự đại lễ Đản Sanh ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ lần thứ 93, 25/11/1919 – 25/11/2011 âl, 19/ 12 dl. Nhân dịp quý vị ghé đây để cùng tôi tán dương đức tin tôn giáo của chư đồng đạo thiện nguyện, tổ chức ngày lễ khá chu đáo cũng như quý vị từ xa vượt khó về trung tâm Đất Thánh kính yêu cho đạo tình ấm áp, ý chí mạnh mẽ giữa lúc Phật Giáo Hòa Hảo đang cơn pháp nạn, Đức Thầy biền biệt chưa về.

         Nhờ tin vào giáo lý cao siêu của vị chân sư và tự tin vào khả năng giác ngộ sự đời của mình là đúng, theo giáo pháp PGHH mà tu là đúng, hăng hái thi đua lập công bồi đức. Chuyên tu tâm dưỡng tánh, trí huệ sanh thì công đức mới sanh. Hình tướng có chuyên tu mà trí huệ không sanh, hãy coi lại sự chuyên tu của mình có đi đúng bài bản không. Đức độ chưa phủ khắp giặc phiền não không sợ mà tránh cho ta con đường rộng thênh thang đi vào cõi Phật. Ta phải chuyên tu hơn và coi lại sự chuyên tu của mình hướng đến là gì.

         Dũng cảm không sợ nghèo đói, chết chóc, tù tội. Khi phải đối đầu trước pháp nạn về tôn giáo, ta luôn luôn đứng ở vai trò “bị động” chớ không “chủ động”. Tìm phương pháp, giải pháp thích nghi không gây nghiệp ác cho kiếp tu này, là cách để hóa giải hay ho nhất giữa ta và nghiệp, nghiệp và ta không còn có kiếp sau trong chuyện trả vay.

         Pháp nạn đến với PGHH rất sớm từ lúc Đức Thầy chưa vắng mặt. Ngài bị quân xâm lược bắt đưa đi nhiều nơi, họ cố tình không cho Ngài ở yên để truyền đạo, làm khủng hoản tinh thần những người đến cầu Đạo với Đức Thầy. Tháng 4 năm canh thìn 1940, trong khi Ngài thu nhận sự quy y của chúng sanh ngày một đông thì nhà cầm quyền cho dời Đức Thầy đi từ THÁNH ĐỊA HÒA HẢO về Sa Đéc, đến đó, vào đêm rằm tháng 4 Ngài sáng tác bài “Sa Đéc”, có đoạn khuyên bổn đạo đừng thấy cảnh tớ Thầy chia cách mà buồn:

                  “Bước gai chông đường đủ sỏi sành,

                   Đành tách gót lìa quê hương dã.

                   Ta cũng chẳng lấy chi buồn bã,

                   Bởi sự thường của bực siêu nhơn.”

                  “Cơn dông tố mịt mù bụi cát,

                   Chẳng nao lòng của Đáng Từ Bi.

                   Vì Thiên Đình chưa mở hội thi,

                   Nên lão phải phiu lưu độ chúng.

                   Kẻ ác đức cho rằng nói túng,

                   Nó đâu ngờ lòng lão yêu đương.

                   Xe rồ xăng vụt chạy bải bươn,

                   Đến khuất dạng tình thương náo nức.

                   Khắp bá tánh chớ nên bực tức,

                   Bởi nạn tai vừa mới vấn vương.

                   Chốn Liên Đài bát ngát mùi hương,

                   Nhờ chỗ ấy mới thi công đức.”

         Ở Sa Đéc không lâu Ngài bị dời đến làng Nhơn Nghĩa, kinh xáng xà No và viết bài với tựa đề “Đến Làng Nhơn Nghĩa (cần Thơ)” vào ngày 29 tháng 4 Canh Thìn tức sau 14 ngày ở Sa Đéc. “Nang Thơ Cẩm Tú, Ngao Ngán Tình Đời” và rất nhiều bài Ngài đã sáng tác ở làng Nhơn Nghĩa. Họ bắt chỡ Ngài đến Nhà Thương Chợ Quán, dụng ý cách ly giữa Ngài và bổn đạo, những ai muốn gặp Đức Thầy để qui y đều không còn cơ hội. Đêm ở Nhà Thương Chợ Quán 18 tháng 7 Canh Thìn Ngài viết thi phẩm “Ai Người Tri Kỷ, Sắp Màn Cảnh Trí, Hiến Thân Sãi Khó, Bóng Hồng…Trong thi phẩm Ai Người Tri Kỷ có đoạn thiệt là tim gan:

                  “Đau đớn cho đời ôi thảm họa,

                   Mạch sầu có miệng lại dường câm.

                   Dường câm muốn nói, nói còn e,

                   Thiện tín thờ ơ nỗi rụt rè.

                   Tiếng động bên tường nghe văng vẳng,

                   Sức hèn như chấu chống ngàn xe.

                   Ngàn xe muốn nghiến chấu còn bay,

                   Nước túng tìm phương chống kẻ tài.

                   Rốt cuộc tương lai do quyết định,

                   Phương trời xa thẳm nắm quyền oai…”

         Tôi mạo muội xin được giải thích chút ý nghĩa của vần thơ nêu trên: Cổ ngữ có câu “châu chấu chống xe”. Xe muốn nghiến Chấu hả? Chấu đã bay cao lên làm sao mà nghiến Chấu được? Những kẻ chống bậc Anh Tài là báo hiệu cùng đường túng nước, chống để “chậm thua” chớ ai vừa sắp bàn cờ mà lại “thua non”. Không còn cơ hội thắng. Tương lai rốt cuộc đã có quyết định sẵn. Chấu bay đi xa nhưng vẫn nắm quyền quyết định sự thắng trên bàn cờ…

         Và bài Hiến Thân Sãi Khó với một vần Tứ Tuyệt nêu lên tấm gương Chấn Hưng Phật Giáo, đừng nói là một vài cay đắng thông thường hay vài chục cái cay đắng như chúng ta là bỏ chạy. Ngài thách thức dẩu có gặp “Ngàn Cay Đắng” ập lên xác thân này cũng đành chịu mà làm xong công việc cúng dường:

                  “Phận tớ  xác phàm tớ sẽ dưng,

                   Cúng dường cho Phật, Phật đành ưng.

                   Dù cho gặp phải ngàn cay đắng,

                   Cũng nguyện đạo mầu sẽ chấn hưng.”

         Ngài bị dời về tỉnh Bạc Liêu ở nhà Ông Ký Giỏi tức Ông Võ Văn Giỏi thì nhà cầm quyền buộc Ngài phải đến trình diện tại bót cò mỗi tuần vào sáng thứ hai, Ngài viết:

                  “Việc chi mà phải đi trình báo?

                   Mỗi tháng bốn kỳ nhọc cẳng Ông.

                   Đợi máy huyền cơ xây đến mức,

                   Tính xong cuộc thế lại non Bồng.”

         Bên cạnh những thế lực ngoại xâm, nội loạn, trong việc khai đạo cứu đời của Ngài còn gặp phải nhiều phần tử quá khích trêu chọc, quậy phá bởi họ cho mình là người có học thức. Biết Đức Thầy học chưa hết bậc tiểu học, họ đem cho Ngài những bài thi Nho gây khó dễ về kiến thức, để họ có cơ hội cười cợt bím nhẻ, điển hình cổ học như Ông Chín Diệm Nguyễn Kỳ Trân, tân học như Ông Giáo Xoài. Nhưng cả hai, sau khi tiếp chuyện với Đức Thầy họ đã kính mộ tài năng xuất chúng, đức độ phi thường của một thanh niên mới 23 tuổi này.

         Nhìn chung, người ta mang đến cho Đức Thầy quá nhiều sức ép, chận chẹc, Ngài đều vượt qua và khai thông những đoạn đường họ làm bế tắc. Bế tắc bằng dời Ngài đi từ làng Hòa Hảo đến Sa Đéc rồi dời sâu vô làng Nhơn Nghĩa, vô tình họ đã tạo cho Đức Thầy có thêm nhiều đạo tràng, diễn đàn thuyết pháp. Sự thành công đó được Đức Thầy cho biết qua hai câu:

                           “Càng đi càng biết nhiều nơi,

                  Càng đem chơn lý tuyệt vời phổ thông.”

         Xem ra, bế tắc bằng phương cách dời Ngài đi nơi này nơi khác là không ổn, họ đưa Ngài vào Nhà Thương Chợ Quán, như một đoạn thơ Tứ Tuyệt qua nhan đề “Phòng Vắng Đêm Khuya” của đêm 25-8-1940 Canh Thìn:

                  “Vận thời luân chuyển đưa ta tới,

                   Tới chốn nhà thương dưỡng bệnh điên.

                   Lắt lẻo hóa công bày tấn kịch,

                   Chia xa bổn đạo xuất mộng phiền”.

         Nơi đây Ngài độ được Ông Bác Sĩ Trần văn Tâm.

         Coi như hết cách, họ đưa Ngài về tỉnh Bạc Liêu ở nhà Ông Ký Võ Văn Giỏi, tính dầu sao cũng đỡ hơn ở trong bệnh viện mà Ông bác Sĩ sẽ là đệ tử, ai dè chứ? Bà Ký, bà ấy cũng đã quy y với Đức Thầy nữa rồi.

         Quý vị thấy đó! Chẳng có sức mạnh nào gây cản trở công cuộc phổ hóa của Ngài dừng lại, Ngài tỏ cho bổn đạo biết:

                  “Khó làm cho Hiền Thánh lung lay,

                   Chỉ tưới nước vun phân cây quí.”

         Và nếu ai đó cố làm lung lay lòng dạ người hiền, vì đời làm việc thiện, thẳng ngay; phải hiên ngang so sánh mình là “Anh Hùng” chẳng sợ gì lòng dạ của những kẻ nhỏ nhen:

                  “Đứng Anh Hùng dựng nên thời thế,

                   Sá chi lời trùn dế nhỏ nhen.

                   Vội đem lòng cượng lý ghét ghen,

                   Thêm cùng bớt tiếng kèn lời huyễn”.

         Đức Thầy làm tốt hết tất cả việc vì Phật Giáo, gầy dựng một sự nghiệp tu hành cho toàn thể tín đồ rồi Ngài tạm vắng để “Chờ con đầy đủ nghĩa nhân, ra tay tế độ dắt lần về ngôi”.

         Trong việc tu hành “phiền não nạn” thật là gay go tràn lan hơn “pháp nạn” nhiều, chúng “Chận Bí Đường” biết bao nhà tu ở lại dương gian với một đống nghiệp nợ rồi chết đi không chút hy vọng vì, chúng làm tối tăm mày mặt hết thấy đường nào là đường về cõi Phật, đường nào khỏi tội, đường nào không còn quả báo luân hồi.

         Tôi biết quý vị đã và đang tu tất sẽ hiểu ngay TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC là cõi Phật, khỏi tội, không bị quả báo luân hồi. Đúng thế, nhưng đường về Tây Phương thiệt quá xa, tính từ cõi Ta Bà ta đang ở mà về đó phải đi qua không gian của mười muôn ức Phật Độ, mỗi một Phật Độ rộng lớn vô biên mà mười muôn ức Phật Độ vậy là càng xa thêm mà trên hành trình không nhờ ai, cả đến Đức Phật, hành giả phải tự đi đến bằng chính đôi chân của mình, đó là niệm NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT. Tùy theo sức niệm Phật có Tín, Nguyện, Hạnh đầy đủ mà cõi Tây phương rút gần lại ít nhiều, ai thiết tha niệm đạt đến chính niệm thì cõi Tây Phương hiện trước mắt, có Đức Phật A Di Đà, hai vị Bồ Tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí cùng các Bồ Tát khác và thánh chúng mừng rỡ tiếp nhận cùng chung cõi bất diệt bất sanh.

         Xưa nay, hành giả tin tu theo pháp môn Tịnh Độ, rất nhiều người niệm Phật cầu vãng sanh Cực Lạc nhưng kẻ đạt người không. Đức Phật đưa ra qui cách niệm Phật không khó, ai cũng như ai, phải vào “Nhất Tâm Bất Loạn” mới kết  quả. Vấn đề là ở chỗ tu tập pháp môn có thiết tha hay không? Có bị vọng niệm về các việc thế trần xen tạp vô không? Hay mất chánh niệm bởi vọng niệm, hành giả có tìm lại chính niệm liền theo hay chậm chạp để vọng niệm thế trần này chuyển qua một vọng niệm thế trần khác mà nói là hết vọng? Để chính niệm bị mất suốt giờ suốt buổi không tìm lại được mà nói “Tôi tu” là tu gì chứ?

         Nhà của người tu mà kết giao toàn cái thứ không tu, tối ngày nó lại chơi hàng hàng lớp lớp; sắm cái Bồ Đoàn, Tọa Cụ để cho Ông đệ tử Phật ngồi niệm Phật mà hơ hỏng chút xíu nó nhảy vô “lật đổ” banh chành, buộc lòng Ông đạo phải niệm ma theo sự chỉ huy của quân nổi dậy. Ông đạo ngồi trên Bồ Đoàn sớ rớ chưa hay chuyện gì xảy ra trong tâm, Ông đã làm tay sai mấy bận cho quân nổi dậy, đuổi Phật về bên Tây Phương rồi còn gì. Bây giờ Ông đạo có chết là chết cho quân nổi dậy, chớ nào hy sinh cho Phật đâu mà Phật cứu.

         Kính thưa chư đồng đạo! Khi hành giả niệm Phật cầu vãng sanh Tịnh Độ thì cách niệm phải chí thành “Nhất tâm tín, nguyện, phụng hành” theo lời Đức Thầy dạy. Nam Mô A Di Đà Phật chỉ là Nam Mô A Di Đà Phật thôi, không nhớ tưởng vì khác. Trong khi ta đang trì hành phương pháp niệm Phật mà nhớ tưởng gì khác là không thành tâm chánh tâm. Sắm tuồng niệm Phật thiệt  “Nòi” tưởng là Phật không, ai dè “lại” tùm lum ở trổng. Khi ta nói lạy Phật, kiểm coi ta có thật sự lạy Phật hay không, coi chừng ta lạy cái gì gì đó mà nói là lạy Phật. Khi ta thực sự lạy Phật thì giữa ta và Phật nối liền không có khoảng cách, ta lạy xuống là trúng Đức Phật ngay, còn nếu ta và Phật có khoảng cách bởi cái gì gì đó ta lạy xuống là dính cái gì gì đó, lúc này Phật có còn hiện diện trong tâm ta đâu mà ta nói là lạy Phật!

         Kính thưa chư đồng đạo! Nhìn dáng vẻ tôi biết quý vị muốn xin kiếu ra về, thôi thì đề tài này đến đây ngưng lại, nếu còn nhân duyên lần sau gặp gở chúng ta sẽ đem bàn bạc tiếp.

         Nguyền cầu chư Phật mười phương, oai linh Đức Thầy gia hộ sự tu hành cho chúng ta.

         Nam Mô A D Đà Phật.

        27/12/2011

        Lê Minh Triết

 
Comments