2009/02/14 - TÔI ĐI CHÙA

TÔI ĐI CHÙA

         Hôm nay ngày 9 tháng 2, nhằm rằm tháng Giêng năm Kỷ Sửu 2009 lòng tôi rất hăng tính chuyện đi chùa. Để cho công việc tốt đẹp, lo trước Phật trong nhà rồi mới đến Phật ở ngoài để không bị những người tu khó tính chê dở, ăn nói lung tung.

         Không siêu rổi được bản ngã, ôm lòng buồn bực, gặp ai cũng đem chuyện ra mét gây vạ cho cửa thiền môn. Đi chùa mà đem chuyện thế gian ra bàn miết, không lo bái Phật cầu kinh, chừng ra khỏi chùa chứng nào tật nấy. Nhà chùa mà để quy tụ quá nhiều chuyện thế gian, tiếng đồn ra xa lâu ngày "Ế" khách, hết linh.

         Sáng sớm tôi lau dọn ba ngôi thờ và đi hái hoa cúng Phật.

         Trước sân hoa buội nào cũng đặc hoa với màu sắc xinh tươi, duyên dáng. Tôi đi trong hai luốn hoa mà hái, đóa nào dường cũng mời mọc quyến rủ quá đi, khiến tôi không thể từ chối đưa tay mà hái đầy một thau vun trùng còn chưa chịu. Trời vừa hanh nắng lúp ló trên rặng cây xa xăm, liếc mắt trông hoa còn phiếu diễu, tôi không nỡ để cho cái duyên dáng của hoa rủ chết trên cây, vào lấy thêm một cái thau hái vừa lòng.

         Ba ngôi thờ nhà tôi trông vui đẹp Làm sao  ấy! chưa bao giờ tôi dâng hoa cúng Phật một cách giàu to như thế. Hoa đơm trên chậu lục bình kê cao, to xoè giống như cái mâm hoa lấn chiếm không gian  tranh cảnh ngôi thờ, đẹp lạ lùng!

         Từ Thiên Quang Am ra đến cổng rạch lộ ước khoảng hai trăm thước không gian phủ một màu yên tỉnh, nhưng khi đến đường "cốc nhảy" thấy có một ít bóng dáng thiện nam tín nữ trông bội dạng đi chùa, không gian có hơi nhộn nhịp. Tôi theo sau, nghe lòng lâng lâng... Đến ngang cổng Chùa Ông Ba (giờ là phủ thờ) thiện tín vào tấp nập, nhộn nhịp,huyên náo.

         Tại sao "Chùa" mà lại là "Phủ Thờ"?

         Nhà nước "Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam" với chủ trương vô thần, chọn nền triết học Mác Lê-Nin làm kim chỉ nam đặt ra điều bốn hiến pháp, không chấp nhận sự có mặt của tôn giáo trong sinh hoạt cộng đồng xã hội, mà tôn giáo nếu có, phải được coi là một phần của thân thể đảng nhà nước. Như vậy, sự sinh hoạt tôn giáo nhằm mục đích sinh hoạt đảng quyền, tín đồ tôn giáo như ký một bản hợp đồng phục vụ đảng nhà nước trên hình thức tôn giáo. Nếu nhà tu hành, tôn giáo làm nghiêng trệ bản hợp đồng coi như lãnh đủ sự thất bại về mình.

         Tình hình Tôn Giáo rất ngột ngạt, các tín đồ không chịu nổi với sự tra tấn tín ngưỡng từ phía cường quyền độc tài áp đến, họ kêu nhau vùng dậy đòi hỏi sự công bằng. Vì sức đấu tranh của tín đồ tôn giáo, buộc họ phải có thủ thuật, đặt ra Ban Tôn Giáo Chánh Phủ, đẻ ngang xương những giáo hội "quốc doanh" đưa đảng viên vào đạo để tìm cơ hội sinh hoạt đảng trong đạo. Lãnh đạo tôn giáo mà là đảng viên Cộng sản, có quyền lãnh đạo trong tay mặc sức làm mưa làm gió.

         "Kim Cổ Tự" là tên gọi của một ngôi chùa do Đức Ông Huỳnh Công Bộ, thân sinh Đức Huỳnh Giáo Chủ đặt. Sau khi Ông Ba Nguyễn Văn Thới viên tịch, ngôi nhà của ông được người ta lập nên Phủ Thờ nhỏ. Bấy giờ Phật Giáo Hòa Hảo đang thời hưng thịnh, ban tổ chức Phủ Thờ Ông Ba cũng đã quy y theo Phật Giáo Hoà Hảo, vì đọc giảng kệ, biết Đức Hùynh Giáo Chủ là hậu thân của Đức Phật Thầy Tây An, Bửu Sơn Kỳ Hương xưa, nay chính là Phật Giáo Hoà Hảo.

         Ông Ba  Nguyễn Văn Thới là bậc đắc pháp từ gốc Bửu Sơn Kỳ Hương... nên quý ông trong ban Phủ Thờ dâng hiến tài sản giá trị vật chất tinh thần của ông Nguyễn Văn Thới cho giáo hội PGHH. Đức Ông Huỳnh Công Bộ bấy giờ là Hội Trưởng tối cao của giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo nhận tặng và đặt tên cho tặng phẩm nầy là "KIM CỔ TỰ". Từ đó, thủ tục văn bản hành chánh đề đúng danh xưng "Kim Cổ Tự" (chua nghĩa Phủ Thờ Ông Ba). Tên chùa có đúc thành chữ miểng để cao trên đỉnh, nhưng dân cư trong vùng quen tiếng gọi "Chùa Ông Ba".

         "Kim Cổ Tự" nhờ Đức Ông đặt tên, chùa càng thêm uy tín, được đông đảo quần chúng các nơi đến cúng viếng lễ lộc. Sau ba mươi tháng tư năm 1975 tình hình quốc gia, tuy không còn chiến tranh huynh đệ tương tàn, nhưng xã hội bất an vì quyền con người bị chà đạp, xã hội hổn loạn. Chánh quyền mới đã phế bỏ vai trò của các tôn giáo, việc đạo sự của các cấp giáo hội không còn, nhưng "Kim Cổ Tự" dù có "sượng" chút hành trình song cũng gượng đi được. Còn lễ lộc, sinh hoạt tôn giáo là cây gai trong mắt chánh quyền, họ muốn bứng gốc đi nhưng dân chúng xứ đạo gan quá, nộ nạc không sợ, bắt đi tù cũng không sợ, vẫn tiếp tục tổ chức lễ, qui tụ đồng đạo.

         Có một năm lễ cúng Ông Ba, thấy tiền cúng khá nhiều, động lòng tham của mấy tên quan tham,  ỷ quyền, năm sau soán ngôi ban tổ chức, mượn tiền làm lễ, mua nhiều con heo giật cúng. Dân chúng ở xa chưa hay thì đến, đến rồi thấy cảnh "Xanh máu mặt" vào chùa lạy nhanh nhanh rồi về, nhiều chỗ dụm năm dụm ba xù xì với nhau: không nên cúng tiền, chỉ cúng lạy thôi. Cúng tiền là tiếp tay với chúng ác phá đạo.

         Năm đó bọn soán ngôi chịu thua lổ nặng, giận lắm nhưng đã hết cách chơi ăn thua.

         "Kim Cổ Tự" ở doi lộ lở, nhiều năm qua, dòng nước sông tiền cuồng cuộng chảy về xoi mòn bờ đất Cù Lao Ông Chưởng. Chùa bị sông nước đe dọa, là cơ hội tốt cho chánh quyền phá chùa hợp pháp, lấy cớ là vùng sạt lở ra lệnh dời chùa. Nhưng trên thực tế có dời đâu, chỉ đập nát ở đây vô đồng cất lại cái khác, đổi xuống cấp tên chùa thành tên Phủ Thờ.

         Trước việc nầy, ông Thăng, chủ cây xăng gần bến phà Thuận Giang, yêu cầu di dời chùa với đúng ý nghĩa và ông ý kiến rằng: đất chùa còn sâu bên trong, ta hãy nên bảo quản di tích lịch sử, đưa nguyên hình thái của chùa vào phần đất còn lại, tôi hứa chịu hết số tiền công thợ di dời.

         Rất nhiều đồng đạo tôn kính Ông Ba, muốn giữ nguyên hình thái ngôi chùa có biết bao kỹ niệm, thân thương, ủng hộ ý kiến ông chủ Thăng nhưng không được chấp nhận.

         Chuyện chùa chiền là chuyện của nhà đạo, mắc mớ chi tới chánh quyền mà cũng thọc cây búa lưỡi lìm vô cản?

         Mục đích của chánh quyền là "phá chùa", làm cho mất xác ba chữ "Kim Cổ Tự" đúc chữ miểng trên đỉnh cao. Di dời là chùa còn nguyên vẹn, động tới những sinh hoạt trong nhà chùa là động đến quyền tự do tín ngưỡng, đàn áp tôn giáo sao! Chùa là của chung trong thiên hạ, không phân biệt cùng không cùng đạo, không phân biệt màu da, chủng tộc, người ta đến chùa hành đạo sự, lý đâu mà cản? Hô biến chùa thành Phủ Thờ, ai đi viếng đây, nếu thấy cần cản là cản được. Thưa ông, đây là Phủ thờ họ nguyễn, nếu không phải người trong bổn tộc thì nghe đây, "vô sự cấm vào" được chứ!

         Khổ thay! Ông Ba được tín đồ nhà Phật tôn là bậc đạo cao đức trọng, chứng thánh quả, là ruộng phước cho thiện nam tín nữ còn bị những dây nhợ chằng chịt gây khó khăn cho việc tôn dương đạo nghiệp của ông. Cửa chùa là cửa từ bi, họ làm phép "hô biến" cửa từ bi thành cửa sát giết, làm thịt đãi ăn trong ngày đại lễ.

         Phủ Thờ Ông Ba do chánh quyền dàn dựng, đạo diễn, cất được sáu năm rồi mà nền chùa củ vẫn còn nguyên vẹn. Dân chúng xầm xì oán trách kẻ ác tâm đã lọt tai chánh quyền. Mắc cở chết được! không biết ăn làm sao nói làm sao vì nền chùa tới giờ chưa lở là sự thật, đất chùa còn sâu bên trong đủ độ an toàn cho việc di dời cũng là sự thật. Sợ dư luận quần chúng ngày một thêm đông: đất ơi tao lạy mầy! xụp lở giùm đi chứ còn chương ướng cái kiểu nầy dân chúng nhìn hoài tao nhức con mắt, chiêm bao lắm!

         Lạy đất, nảy sanh mưu kế: ra lệnh bán đất nền chùa cho khuất, khỏi phải chiêm bao và ngủ ngon, tức thời máy cạp đất, xe tải đất đến liên tiếp xúc đi, làm giàu thêm một khúc. Nền chùa bấy giờ là cái hầm rộng sâu.

         Nhưng Trời không để cho chúng ác ngủ yên, mùa nước lớn, lũ từ trên thượng nguồn tràn về mang phù sa lấp hầm bày lên cái nền chùa y như củ cho chúng gian phá chùa bán đất ngó thấy. Chuyện rối bời, chúng ác lăng xăng lộn xộn tính kế.

         Thấy chợ Thuận Giang đang độ bị sạt lở, đưa một số hộ xuống sông. Chúng ác lên kế hoạch di dời chợ Thuận Giang về nền chùa Kim Cổ, huy ép những hộ dân ở chợ củ sạt lở về chợ mới. Vừa khởi đầu bị dân chúng phản đối gắt gao: "Chúng tôi kém phước không dám đến ở đất nền chùa trong khi chùa chưa cho phép, ăn ngang của chùa là tổn đức sẽ gặp tai họa hoặc chết yểu." Người khác thì sẵn sàng ăn thua hơn: "Các ông cho nền chùa là nơi sạt lở, bảo chùa phải phá dở đi gắp, sao lại còn kêu chúng tôi đến ở, ý muốn giết dân sao?”

         Lý luận không lại, chúng ác nhỏ đem vụ việc thưa trình với chúng ác lớn. Sau khi bàn bạc, họ quyết định ngày "mở chiến dịch" kéo một đoàn quân như đi chinh chiến biên thùy: súng đạn, roi điện, vùi cui đầy đủ. Nhân dân hay tin, ghét quan tham hóng hách, rỉ tai với nhau mỗi nhà đều mua xăng về tử chiến.

         Chúng ác đến nơi, thấy thế trận nhân dân bày ra khiếp vía, mấy tên ôm súng điện, súng đồng, vùi cui đứng ngẩn ngơ, mấy quan tham tái mặt, không một chiến sĩ nào dám xông pha vào trận đùa giỡn với xăng. Chúng ác thua non kêu rút quân.

         Nền chùa xưa còn là cái nhà lòng chợ. Đem nhà lòng chợ trám bít nền chùa, dù thực hiện không thành công đúng theo qui tắc của cái chợ, nhưng nền chùa đã bị nhà lòng chợ bôi tên, kể cũng được chút thành công, đở thẹn. Nhưng, tiếng xấu để đời, "tên phá chùa" vẫn còn đi theo năm tháng thời gian.

         Có nhà lòng chợ lại không nhóm họp gì, bạn hàng rau cải mượn đây để trung chuyển. Mấy quan ta thấy có cơ hội moi tiền, kêu cho làm bến bải rau xanh, hằng tháng "quơ" được chút ít tiền mà sống cho nốt cái đời bẩn thỉu: phá chùa, bán đất.

         Phủ Thờ Ông Ba rằm nầy rất đông khách thiền môn đến lạy Phật, cúng Ông, sự vái lạy hoàn toàn mang tính tôn giáo không mang tính bổn tộc, đặt ép buộc tên chùa thành tên phủ thờ cho mất đi ý nghĩa tôn giáo là vi phạm quyền tự do tôn giáo của người có tín ngưỡng tôn giáo, nhưng người đi phủ thờ vẫn cúng nguyện như kiểu đi chùa. Như vậy, sự ép buộc chùa thành phủ thờ đã không thành công mà còn bị mang tiếng là "đàn áp tôn giáo".

         Tôi đi qua và lần lược trên đường có rất nhiều thiện tín xuôi về Phủ Thờ. Phà Thuận Giang liên tục đưa rước khách sang sông. Tôi không ghé chùa nhà cũng không xuống phà về Hòa Hảo. Đứng bên góc ngã tư đường nhìn dòng người qua lại nghe thương cảm vui vui. Có những người không phải là tôn giáo đạo Phật vẫn đi chùa lạy Phật, vái vang với trí tưởng tượng rất phong phú: Đầu năm đi chùa cúng bái, hái lộc Phật lấy hên... Tôi xuôi đường về huyện Chợ Mới, vượt thẳng đến "Quang Minh Tự". Chùa nầy có nhiều tên gọi: chùa Ông Năm Cây Dương, Cốc Ông Tư, Quang Minh Tự là cái tên do Tu Sĩ Võ Văn Thanh Liêm, tọa chủ bổn tự đặt, còn tên chùa "Ông Năm Cây Dương" bao phủ bởi một chuyện ly kỳ hấp dẫn.

         Ông Năm Cây Dương chính thật là Võ văn Thanh Liêm đấy. Ngày 25 tháng 4  năm 1994, chánh quyền công an huyện Chợ Mới đem lực lượng chánh quyền công an đến bao vây, tấn công chùa "Quang Minh Tự" buộc vị Tu Sĩ  tọa chủ bổn tự dở hết am cốc cất chung quanh ngôi thờ tự. Tu Sĩ Thanh Liêm không đồng ý.

         Chánh quyền nói cho đã rồi ra về bằng câu hăm doạ: Tôi cho Ông ba ngày để suy nghĩ, nếu Ông kịp giác ngộ thì báo chúng tôi hay, bằng không, đến ngày thứ tư, chúng tôi sẽ theo luật hiện hành phát lệnh cưỡng bức.

         Sức đàn áp tôn giáo của chánh quyền giờ rất mạnh. Biết họ nói thì họ làm, ông Võ Văn Thanh Liêm ra đòn trước, đi mua một cal xăng năm lít mang lên ngọn cây dương, cột thân mình vào thân cây ngừa không để rớt. Nếu tên chánh quyền công an nào lớn gan trèo lên bắt người lập công to, không để chúng bắt đi tù, hành hạ làm tội làm tình khi mình vô tội, đổ xăng lên người, bật nhanh hột quẹt thế là xong.

         Luôn bốn ngày liền, vị Tu Sĩ đáng kính của chúng ta không tiểu tiện, ăn uống gì cả. Dưới gốc cây dương chánh quyền kéo đến rất đông, trực chiến mỗi ngày la hét kêu xuống.

         Tiếng đồn rất nhanh, từ nơi xa xôi nghe tin ông đạo cây dương bị chánh quyền đàn áp, người nặng lòng với đạo, nghe như "chọc giận" đến mình, vượt khó khăn tìm đến để coi có giúp được gì, người có tánh hiếu kỳ, nghe chuyện lạ đói con mắt rủ ren đi xem. 30 tháng 4 là ngày lịch sử nước nhà đánh dấu một cuộc "cách mạng thành công", thống nhất đất nước.

         Chánh phủ phát lệnh ăn lễ toàn quốc, tổ chức những cuộc vui chơi giải trí. Vào dịp nầy, ủy ban nhân dân huyện Chợ Mới tổ chức một giải bóng đá, mời các đội bóng trong toàn tỉnh về thi đấu tranh tài vô địch. Sân bóng đá đang đông nghẹt người xem, không biết ai đã đưa tin về chuyện Ông Năm Cây Dương... người ta đồng ý đổi cuộc vui chơi, xem tranh giải bóng đá bằng đi xem một trò chơi rất ngoạn mục. Họ rủ nhau đi nhìn một người với đầy lòng thương cảm: Lạy Phật, có vị Tu Sĩ bị huy hiếp phải leo trốn trên ngọn cây dương bởi sức đàn áp quyền tự do tôn giáo của chánh quyền huyện Chợ Mới.

         Người treo mình trên ngọn cây dương, thấy cái chết gần đến nên lúc nào cũng tỉnh tâm niệm Phật, cầu Phật cứu độ. Kẻ quyền thế mò mẩm dưới gốc cây dương lâu ngày mỏi mệt, tức giận, chưỡi mắng om sòm vác đất đá liệng lên. Có được trò cười từ chánh quyền công an diễn xuất linh động, người được xem cười khoái chí.

         Sân bóng đá cứ như được nước thưa khách dần, ban tổ chức hết cách cầm cộng khách mà không chận đứng được dòng người rút đi vào chốn kia, công an không thể ngồi yên cho khán giả bóng đá tràng vào Quang Minh Tự, các quan liền xuống trạm chận người trên đường chùa và bao vây luôn những con đường vào các nhà bên cạnh. Hành động đó dẫn đến cho những người có óc hiếu kỳ sự tò mò, họ băng ngang ngửa đầy trên đồng ruộng, đông nghẹt người áp sát bên ngoài lưới rào bê bốn mươi để xem chánh quyền và Ông Năm Cây Dương... Các quan thấy tuồng không ổn, dân chúng kiểu nầy gần như chờ đợi cuộc biểu tình, lở "dậy lên" không lẽ đem ra mà "bắn". Các quan liền xuống giọng nhỏ nhẹ, dụ Tu Sĩ Võ Văn Thanh Liêm leo xuống, họ hứa không bắt tội, cũng không buộc phải giải tán am cốc. Nhưng nhà tu hành  nầy biết bụng dạ của những tên "đỏ vỏ xanh lòng" nhất định không xuống. Nhìn đám dân coi cứ ở miết theo tuồng, sợ để lâu tiếng đồn vang xa không tốt cho việc trị an, họ bàn nhau, thống nhất cử người vào năn nỉ mẹ của Tu Sĩ Thanh Liêm: nhờ bà ra kêu con của bà xuống chúng tôi hứa không bắt tội.

         Vì chữ hiếu Ông Năm Cây Dương phải nghe theo lời khuyên của mẹ mà xuống. Không "mại hơi" chút nào, họ "thợp" liền, Ông đi tù với tội danh: "gây rối trật tự an ninh công cộng", án phạt 5 năm. Mãn hạng tù Tu Sĩ Thanh Liêm tiếp tục tu niệm tại "Quang Minh Tự", và tiếp tục bị mời bị giam giữ hỏi tội dài ngày, ngắn ngày trên hai mươi lần. Đến tháng 8 năm 2005 chúng cường quyền đến vây bắt ông trong khi ông đang đi sửa cầu đường với tội danh "cố ý tạc xăng vô mặt người khác".

         Nghe có chõi lổ tai không? hỡi Trời à!

         Tòa án huyện Chợ Mới mở một phiên tòa lén lúc ngày 15 tháng 9 năm 2005 vụ án  đưa vào khung hành sự "Cố ý tạc xăng vô mặt người khác", bị cáo không có luật sư bào chữa và thân nhân của người chịu án oan nầy được chánh quyền địa phương canh giữ nghiêm nhặc, ở tù một ngày trong nhà. Tòa án tự buộc tội và viết lên một mức án phạt sáu năm rưởi tù cho vị Tu Sĩ, để tên thơ ký phiên tòa đọc lên trước công đường mờ mịt, u tối, thế là xong.

         Cho đến nay người đồng đạo yêu kính của chúng ta vẫn còn đi tù biền biệt chưa về.

         Tu Sĩ Võ văn Thanh Liêm là một Tu Sĩ có khá nhiều tuổi đạo, hạnh cách tu có tầm cở của người huynh trưởng. Ngày dùng chỉ một bửa ngọ trai, không giữ tiền và cũng không xài tiền, ở chùa ai nấu đãi chi thì dùng nấy. Không giữ tiền, cũng không kiểm soát tiền chùa ai trông, còn nhiều hay ít. Sự sống ở chùa là ruộng, nhưng ông không cho mấy đệ xịt sâu rầy, ông kêu đừng bón phân cho lúa xanh xung, ít phân lúa vàng cây, ngắn lá sẽ nhẹ bị hại, con nào có đói lắm mới gậm nhấm chút đỉnh rồi cũng chán. Tu mà nặng nghiệp sát giết bị quả báo tu lên không nổi.

         Có lần tối đến ông đi thăm mẹ, chừng về, trên đoạn đường dài hai trăm thước vắng tanh, xảy có bốn đứa thanh niên chận ông lại và đánh. Ông Liêm xuôi tay cho đánh đến té quỵ xuống, ra máu họng. Một trong bốn người thanh niên nói: mình đánh ông ta không đánh lại, thôi đừng hiếp nữa, đi tụi bây ơi!

         Chúng bỏ đi, ông Liêm gượng tỉnh, đi trong sự đau đớn lần về chùa, trời tối không ai thấy, ông lén một mình lau sạch máu miệng, ém nhẹm không cho ai biết vụ nầy, sợ vì tình huynh đệ với nhau mà nóng nảy sanh ra lớn việc. Nhưng sáng lại, đồng đạo trong chùa nhìn thấy mặt mày của ông có chỗ xưng, trầy biến sắc, hỏi han ông thì ông vả lả chuyện khác, tránh gần gủi với chư huynh đệ vì thỉnh thoảng ông có ho, nhăn mặt vì tức lói ngay chỗ bị đánh. Ngày lại ngày, thân thể ông gầy đi, sắm thuốc cho ông thì ông nói không có bệnh gì nên không uống.

         Tại sao chỉ có một ông già thôi sức lực có còn đâu  mà phải một lược đến bốn thanh niên nhảy vô đánh?

         Những tên côn đồ đâm thuê chém mướn nầy không ở xa, nhưng đời chúng cần tiền hơn cần sự phải quấy. Biết ông Liêm là người rất giỏi võ nghệ, không tung sát đòn một lược, còn kẻ hở cho ông đánh trả, tháo được vòng vây thì bốn đứa phải ra ma.

         Tu theo hạnh từ bi của Phật, có ai đánh phải xuôi tay mà chịu ăn đòn vậy đó.

         Ở không xa tức là người  cùng xóm? Phải! Thời gian trôi qua khoảng nửa tháng sau, một trong bốn thanh niên đánh ông Tu Sĩ Liêm bị tử thần bôi sổ, quỷ xứ bắt xuống diêm vương, một tên nói chuyện khùng khùng mal mal, một đứa bị bệnh khá nặng đi nằm nhà thương và một thằng may mắn không có gì, thấy quả báo sợ đến khiếp kinh hồn vía bỏ xứ mà đi.

         Đồng đạo tu trong chùa rất lo lắng cho sức khoẻ của ông Liêm vì thấy thân thể ông huynh cứ khô héo gầy dần thì vào một buổi sáng mát trời, Quang Minh Tự vẫn là một không gian yên tỉnh cho những người con Phật tâm nguyện Đức Di Đà, bổng có một bà lão tìm đến Tu Sĩ Võ Văn Thanh Liêm, chấp tay xá vùn vụt, miệng kêu cầu cứu:

         - Thưa Ông Năm, cứu giùm con tôi!

         Ông Liêm hỏi:

         -   Con của bà bị sao mà đến đây kêu cứu?

         Bà chùi nước mắt, xịt nước mủi nói:

         -   Thưa, vì nó dại dột, nghe lời người ta xúi đánh ông. Giờ bị quả báo, đau chứng ngặt nghèo đang nằm bệnh viện. Xin ông tha tội cho nó, ông làm ơn làm phước cho nó sống.

         Ông Liêm nghe nói cảm thương niệm Phật Từ Bi, đưa hai tay nắm tay bà lão, lòng xót xa như thương mẹ mình và hứa tha tội cho con bà, đồng thời an ủi, khuyên bà về lo cho chú ấy sớm khỏi bệnh.

         Được có lời tha tội, bà an tâm ra về mang niềm hy vọng cứu con.

         Đưa khách ra tận cổng chùa, ông Liêm trở vào với tâm tư e ngại. Chuyện bại lộ hơi sớm, xét thời gian chưa đủ để nguôi lòng huynh đệ nên ông cố gắng lẫn tránh sự tiếp xúc, hỏi han việc qua rồi. Tới giờ dùng bửa ngọ trai, ông kêu để cơm chỗ nào đó cho ông đến mà bưng đi ngồi ăn riêng. Thấy ông dường cố tình lẩn tránh, mọi người trong chùa đứng xa lén nhìn ông, cảm thương nghẹn ngào rơi lệ.

         Hởi Trời Phật ơi!!! Bị đánh ra máu họng vẫn xuôi tay chịu không hề đem chuyện mình bị đánh kể cho ai nghe. Hạnh tu của Tu Sĩ Võ văn Thanh Liêm như vậy không đáng làm gương mẫu sao? Giá gì cái chuyện của bà Trần Thị Hằng, đi tập thể dục ngang qua nhà ông Liêm mà bị ông nầy chạy ra hất trọn cal xăng vô mặt như báo An Giang đưa tin thì hết sức là trửng giỡn. Giỡn kiểu cho người ta đi sáu năm rưởi tù, tội bà Hằng nầy nặng lắm!

         Thật sự, có ai hất xăng vô mặt bà Hằng đâu! Hãy để việc nầy cho đàn bà với đàn bà đánh ghen làm đặng phá dung nhan tình địch mình mới đúng sách vở... Giá như, chuyện tạc xăng vô mặt kia là có thật, nhưng xét ra, bà Trần Thị Hằng không bị thương tích gì. Từ ngày dựng cớ bắt ông Liêm đi tù bà vẫn sinh hoạt bình thường, đâu có hồi nào thành "Trung Vô Diệm" thế mà kêu án ông Liêm đến sáu năm rưởi tù, thế này là thế nào? Ghét Ông Năm Cây Dương và quyết tâm bắt giam ông ta là một thực tế, nhưng giàn dựng vấn đề phạm tội và đưa ra mức án phạt thì thật là trơ trẻn, lúng túng, vô lý, bất công.

         Bắt người đi tù là một âm mưu của cái tập quyền không ưa tôn giáo, huy chụp tạc xăng là tạo cái cớ đen tối để thực hiện cuộc âm mưu đó.

         Tu Sĩ Võ văn Thanh Liêm có tội tình gì đâu. Hăm lăm tháng hai nhuần âm lịch 1947 là ngày Đức Tôn Sư Giáo Chủ Phật Giáo Hòa Hảo vắng mặt bởi biến cố Đốc Vàng mà Bửu Vinh, người phía Cộng sản đã ra tay hãm hại Ngài. Để kỷ niệm ngày Đức Thầy xa vắng, người tín đồ muốn tổ chức lễ kỷ niệm tại gia để nhớ ơn Thầy hóa độ. Nhưng, chánh quyền Cộng sản "có tật giật mình" cấm nghiêm nhặc, thả công an chìm bám theo những hộ dân nào có hơi lễ cúng, hăm he, trù dập, khó dễ đủ điều. Nhiều người không dám, nhưng tu sĩ Võ Văn Thanh Liêm thì dám đấy!

         Ông  làm cái chuyện nhà nước không cho, ngày 25 tháng 2 âm lịch năm 2005 tu sĩ Liêm đặt bàn hương án trước nhà với hai tấm băng rol nói lên ngày kỷ niệm, lúc đó bà Trần Thị Hằng là thành viên của hội phụ nữ bị sự điều động bởi chánh quyền huyện Chợ Mới, phối hợp thành đoàn thể trên một trăm người có vùi cui súng điện kéo đến bao vây khu hành lễ của Ông Năm Cây Dương. Theo sự phân công, Ông Năm Cây Dương trực diện tại bàn hương, những đồng đạo khác lo bảo vệ hai tấm băng rol. Toán quân hiếu chiến, hùng hậu do bà Hằng đi tiên phuông. Biết ông Tu sĩ  là người giữ "Nam nữ bất tương thân" bà dẫn quân tấn công ngay bàn hương án, biết chắc vị tu sĩ không dám động đậy, càng cố gắng không quơ múa tay bất cẩn va chạm thân phụ nữ. Đó là một lợi thế cho bà bám sát vào, nếu nhà tu hành sợ đụng bà mà lùi bước thì bà làm chủ tình hình dẹp bàn cầu nguyện. Nhưng, chiến sĩ Như Lai không lùi bước, liền chụp cal xăng để sẵn, mở nắp đưa lên cao cho xối xuống đầu mình, tay móc chiếc hột quẹt, chưa kịp bật lửa thì một tên vô danh tiểu tốt trong toán quân của bà Hằng lao người tới đánh văng chiếc hột quẹt ra.

         Bấy giờ chánh quyền làm chủ chiến trận, nhưng họ không bắt ông Liêm, cũng không đá động gì tới bàn cầu Phật mà họ muốn dập tắt ngay từ đầu, họ tìm ra cái mánh lới ăn ngon và ngọt mà không bị tai tiếng đàn áp tôn giáo. Chụp được cái cơ hội bằng vàng, nâng quan điểm... la to lên: bà Hằng bị tạc xăng vô mặt, tức thời xe cứu thương hú còi rùng rợn, đưa bà ta đi vào bệnh viện.

         Sắp tuồng cho người ta xem tưởng thật, nhưng khán giả ai cũng thấy lòi sự giả dối ra. Ông Liêm tự đổ xăng lên người mình, chớ đâu có đổ lên mặt bà Hằng. Bà ta đến đây với ý đồ đen tối, mang ác tâm phá Phật hại tăng, lở bị xăng nhảy dính, có thiệt hại đến cở nào thì "bụng làm dạ chịu" thôi chứ trách ai! bà tấn công vô nhà người ta để phá cuộc lễ tôn giáo là một đại nghịch, đại tội, không biết sao quỷ xứ chưa bắt bà xuống địa ngục để hỏi tội là may.

         Ông Liêm đổ xăng lên người ước mem quần áo, đầu mình còn chưa có ai đem đi nhà thương nhà ghét gì đâu. Chở bà Hằng đi bệnh viện để có cớ buộc tội ông Liêm "tạc xăng vô mặt người khác" mà bắt giam ông thôi.

         Kế hoạch nắm phần chắc trong tay, ngày 5 tháng  8 năm 2005, ông Võ Văn Thanh Liêm đang sửa cầu đường vào chùa, chánh quyền, công an đến từ bốn phía tràn tới bắt trói ông Liêm khiêng đi.

         Và cũng từ đó "Quang Minh Tự" đã bị cắt điện ánh sáng.

         Tôi đến cổng rào chùa Ông Năm Cây Dương, đưa mắt nhìn trong sân chùa cũng khá đông khách, rải rác một ít vị đi đứng thẩn thơ xem cảnh quang, phần đông thì ngồi lại như xây hội trường, chắc đang thảo luận những đề tài nóng bỏng chuyên biệt "HỌC PHẬT TU NHÂN" cho sự nhận thức sâu hơn, đẩy mạnh tiến trình tu. Vài đồng đạo ra đón tôi tận cửa và mời vào.

         Liếc nhìn một đống cát đá ngổn ngang, trơ màu sương nắng, làm tôi chợt nhớ ông huynh đi đã lâu chưa trở lại. Tôi ngậm ngùi, lòng gợi lên niềm thương cảm, nắn nót dây tơ:

                 Nhìn chim én trao lời trước gió,

                 Nhớ người đi hôm nọ chưa về.

                 Tôi nghe trong dạ tái tê,

                 Hởi người đi có trở về nữa không?

         Khúc tâm ca còn đương thổn thức chưa nguôi, thì lại văng vẳng những lời thơ hùng tráng như sự hùng tráng của Tu Sĩ Võ Văn Thanh Liêm, huyền ảo bao trùm:

                 Không có tôi mặt trời vẫn sáng,

                 Chim vẫn hót và cất cánh bay xa,

                 Gió bình minh hay gió buổi chiều tà,

                 Đều chuyển bước trong không gian vũ trụ.

                 Không có tôi muôn sao vẫn tinh tú,

                 Cỏ vẫn mọc, Cây vẫn lên, Lá vẫn xanh, Hoa vẫn nở, Ngát hương!

                 Mấy vùng xa còn nhẹ thoảng hương bay.

                 Người theo gió, ươm giống hoa tươi.

                 Cho hoa vui trong các chỗ vui,

                 Cảnh buồn hiu, bạn hoa tỏ lời tâm sự.

                 Gió thổi, hoa thêm duyên dáng.

                 Mặt trời không rụng,

                 Cây Dương già ủ rủ đợi ai?

                 Mấy mùa Dương thay lá,

                 Tiếng nguyền xưa còn vươn trên cây dương cao bóng mát, sẽ là hoa biết nói:

                 Một đóa hoa nở rồi!

                 Hai đóa hoa nở rồi!

                 Hằng triệu đóa hoa trên cây kia còn ngậm hương chờ sáng mai sẽ nở.

                 Cũng hằng triệu đóa hoa trên cây kia còn ngậm hương chờ sáng sau nữa nở.

                 Sáng mai toàn là hoa!

                 Sáng mai toàn là hoa!

                 Phật Giáo Hòa Hảo chúng ta.

         Tôi gặp lại chú tiểu Minh Kỳ. Mới bốn năm mà chú lớn hẳng lên. Lúc bắt Tu Sĩ Võ Văn Thanh Liêm xong, chánh quyền tấn công vào chùa bắt luôn cả vị Tu Sĩ Võ Văn Thanh Long.

         Quý nữ tu trong chùa vốn là em cháu ruột của chủ tự ra cản hành động bắt người trái phép đã bị mấy tên quan lính đánh văng hàng núc áo ngực, quý nữ tu không ngờ bị làm nhục, ngượng nghịu hết dám hở môi. Minh Kỳ khiếp quá vừa chạy vừa la to: Chánh quyền hành hung đánh người, huy hiếp làm nhục nữ tu! Thế là, một vài tên quan lính, trông dạng rất ghê tởm rược Minh Kỳ chạy tuốt vô đồng. Chú tiểu tuổi còn quá bé, chạy xa đuối sức bị chúng thợp được, hất dò cho té úp mặt xuống ruộng nước, tay đè đầu, dập cho mấy cái làm chú tiểu ngợp muốn chết, đầu cổ lấm lem bùn đất mới chịu buông tha.

         Tôi nhìn Minh Kỳ, nhớ chuyện xưa, lúc ấy chú tiểu mới chừng mười hai tuổi, nhỏ con, chứ phải được hình thể như giờ, có sức chạy nhanh mấy quan lính mang giày khó mà đuổi kịp, đâu xảy ra chuyện thương tâm, khiến nhiều người chảy nước mắt vì chú tiểu.

         Tới giờ hành lễ, ban tổ chức kêu mời thiện nam tín nữ đến viếng chùa cúng rằm tháng giêng, tề tựu trước sân chùa cầu cúng thống nhứt.

         Ban tổ chức cử một xướng ngôn, đưa ra chương trình cầu cúng với những tiết mục đáng ghi nhận trong sinh hoạt tôn giáo, khiến người ta lưu ý :

         -  Lễ dâng trai phạn cúng dường "Cửu Huyền Thất Tổ" và Ông Tư, vị tiền bối sáng lập cảnh già lam thanh tịnh nầy.

         -  Lễ cúng đất đai

         -  Lễ cầu quốc thới  dân an

         -  Lễ cầu cho nền đạo Phật Giáo Hòa Hảo vượt mọi khó khăn, phát huy tiềm lực sẵn có "Khắp thế giới liên dây Hòa Hảo"

         -  Lễ cầu sự may mắn, bình an, đem đến cho những đồng đạo đang ngồi tù vì đấu tranh tôn giáo sớm được trả tự do.

         -  Lễ cầu siêu cho các anh linh  tử sĩ, vì tổ quốc và đạo pháp bỏ mình.

         Sau lễ cầu cúng thống nhứt, ban tổ chức ân cần  mời thiện nam tín nữ dùng bửa cơm chay thân mật. Chùa nhỏ nghèo nàn, chỗ đãi ăn ngoài trời, không có mái che cũng không có bàn ghế. Dọn ngồi trệt xuống sân xi măng hoặc một ít trên váng sàn nhà, làm những khách phục sức thời trang hơi khó ngồi, nhưng luôn biểu lộ sự vui tươi, duyên dáng, thú vị.

         Dùng bửa xong thiện tín lần lược ra về. Tôi dẫn xe ra cổng, đi ngang qua đống cát đá ngổn ngang và nhìn con đường chùa đầy ghẻ lở mà chạnh nhớ người đi biền biệt chưa về.

         Kiến An, 20 tháng Giêng năm Kỷ Sửu (14-2-2009)

        Lê Minh Triết

Comments